Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI VÔ Ý LÀM CHẾT NGƢỜI THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM LỖI VÔ Ý VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUY ĐỊNH CÁC TỘI PHẠM ĐƢỢC THỰC HIỆN DƢỚI HÌNH THỨC LỖI VÔ Ý THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và cơ sở lý luận của lỗi theo luật hình sự Việt Nam Nguyên tắc có lỗi là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam. Có lỗi là cơ sở chủ quan để có thể buộc chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và về hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi đó gây ra.
Dù hành vi của họ có gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội, nhưng nếu họ không có lỗi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Có thể nói, hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ bị coi là tội phạm khi được thực hiện một cách có lỗi. Lỗi là thái độ tâm lý của chủ thể đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện và với hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi ấy gây ra thể hiện dưới hình thức lỗi cố ý hay vô ý. "Một người phải chịu trách nhiệm hình sự không chỉ vì họ đã có hành vi nguy hiểm cho xã hội, mà còn vì họ đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó" [23, tr.
Theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin thì mỗi hiện tượng trong thực tại khách quan đều được quy định bởi một hoặc nhiều hiện tượng khác nhau; sự tồn tại, thay đổi và phát triển của mọi hiện tượng đều chịu sự chi phối của những quy luật khách quan. Hoạt động của con người cũng chịu sự chi phối của những quy luật khách quan. Tuy vậy, nhờ hoạt động có ý thức, con người có khả năng nhận thức được quy luật và lợi dụng quy luật để thực hiện mục đích của mình, đó là sự tự do của con người. Con người có tự do đối với xử sự của mình có nghĩa là họ có tự do lựa chọn, quyết định và thực hiện xử sự.
Tuy nhiên, con người chỉ có thể tự do thực sự khi xử sự của họ phù hợp với quy luật, nếu không 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phù hợp với quy luật thì có nghĩa họ đã tự tước bỏ khả năng tự do của mình. Tự do và trách nhiệm là hai phương diện của một vấn đề, không thể có trách nhiệm mà không được tự do, cũng như không thể có tự do không liên quan gì đến trách nhiệm đối với người khác, đối với xã hội. Tự do không phải bẩm sinh con người có được mà gắn với quá trình hoạt động, lịch sử phát triển của loài người. Trách nhiệm được hiểu là khả năng của con người ý thức được những kết quả hoạt động của mình, đồng thời là khả năng thực hiện một cách tự giác những nghĩa vụ được đặt ra cho mình.
Cũng như tự do, trách nhiệm của con người được quy định bởi những nhu cầu phát triển của đời sống con người. Trách nhiệm hình thành trong quá trình điều chỉnh lợi ích giữa cá nhân với cộng đồng và xã hội. Lợi ích của mỗi người chỉ có thể thực hiện được trong một tương quan nhất định với lợi ích của lợi ích của một xã hội nhất định. Trách nhiệm tồn tại dưới hai hình thức cơ bản là hình thái tích cực, tức là hình thái có trách nhiệm của con người và hình thái tiêu cực, tức là hình thái chịu trách nhiệm của con người.
Dưới hình thái tích cực, trách nhiệm thể hiện ở những hoạt động nhằm duy trì, phát triển trật tự xã hội, pháp chế, đạo đức. Còn dưới hình thái tiêu cực, trách nhiệm phát sinh từ những lợi ích của xã hội và của con người bị vi phạm, khi không thực hiện đầy đủ trách nhiệm với xã hội thì người đó phải chịu trách nhiệm trước xã hội. Có thể nói, con người có trách nhiệm là con người thấy trước những hậu quả của hành động của mình, cố gắng ngăn chặn những tác hại có thể xảy ra đối với lợi ích của xã hội. Khi xã hội bảo đảm cho mỗi cá nhân được tự do thì cũng đòi hỏi cá nhân phải đáp ứng đòi hỏi của xã hội, đó là vấn đề trách nhiệm của cá nhân trong xã hội, trách nhiệm đó hoàn toàn phù hợp với tự do.
Những đòi hỏi của xã hội nhằm thực hiện sự tiến bộ, sự phát triển của xã hội theo tất yếu khách quan, việc thực hiện những đòi hỏi của xã hội cũng chính là thực hiện sự tự 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. "Con người có tự do để thực hiện trách nhiệm và thực hiện đầy đủ trách nhiệm cũng là sự thực hiện tự do" [23, tr. Mặc dù con người trong xã hội có khả năng thực tế để tự do, nhưng trong xã hội vẫn có những xử sự không đúng, đó là những hành vi phạm tội, hành vi vi phạm pháp luật và những hành vi trái đạo đức. Đối với những hành vi như vậy xã hội và Nhà nước có quyền buộc họ phải chịu trách nhiệm, đó là hậu quả của việc không thực hiện đầy đủ những nghĩa vụ trên cơ sở quyền hạn của tự do.
"Tự do là cơ sở của trách nhiệm và trách nhiệm chỉ đặt ra cho một người khi họ có tự do. Con người xử sự trái với lợi ích của Nhà nước, của xã hội thì có nghĩa họ là người có lỗi, trách nhiệm chỉ đặt ra khi có lỗi" [23, tr. Tự do, trách nhiệm là cơ sở lý luận của lỗi. Lỗi là một dấu hiệu của tất cả các cấu thành tội phạm, đòi hỏi phải được xác định trong mọi trường hợp khi áp dụng luật hình sự.
Việc ghi nhận nguyên tắc có lỗi trong Luật hình sự chính là sự thừa nhận và tôn trọng tự do thực sự của con người. Xác định lỗi đúng là một điều kiện cần thiết định tội danh, nếu xác định lỗi sai thì sẽ dẫn đến định tội danh sai. Trong thực tiễn, việc xác định lỗi trong nhiều trường hợp rất phức tạp. Để có thể xác định lỗi một cách chính xác, đòi hỏi phải nắm vững những dấu hiệu về hình thức cấu trúc tâm lý của các loại lỗi đã được mô tả trong các điều luật của Bộ luật hình sự và hiểu rõ bản chất của lỗi nói chung cũng như mặt nội dung của từng loại.
"Trên cơ sở nhận thức đầy đủ về lỗi và từng loại lỗi mới có thể có được phương pháp đúng trong việc xác định lỗi trong những trường hợp phạm tội cụ thể" [51, tr. Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, tuy có nhiều cách thể hiện khác nhau, song về cơ bản các quan điểm đều thống nhất về nội hàm của chế định lỗi là nhằm xác định rõ lý trí và ý chí của người phạm tội đối với những biểu hiện bên ngoài của tội phạm. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Có quan điểm định nghĩa lỗi căn cứ vào mặt hình thức của lỗi như sau: "Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý" [22, tr. Có quan điểm định nghĩa lỗi theo đặc điểm cấu trúc tâm lý, cụ thể là: "Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là có lỗi nếu khi thực hiện nhận thức được hoặc có đủ điều kiện để nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và có đủ điều kiện lựa chọn, thực hiện hành vi khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội" [23, tr.
Có quan điểm cho rằng: Lỗi hình sự là mặt chủ quan của tội phạm và là một trong những điều kiện bắt buộc của trách nhiệm hình sự, đồng thời là thái độ tâm lý của người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm mà người đó thực hiện và hậu quả do hành vi ấy gây nên dưới hình thức cố ý hoặc vô ý [9, tr. Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những quan điểm khác nhau trên đây về lỗi và căn cứ vào các quy định về lỗi trong pháp luật hình sự Việt Nam, có thể đưa ra khái niệm về lỗi như sau: Lỗi là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự quy định là tội phạm mà họ đã thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý hoặc vô ý và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra. Căn cứ vào các yếu tố lý trí và ý chí trong những trường hợp có lỗi, trong cả ba lĩnh vực thể hiện của luật hình sự Việt Nam (pháp luật hình sự thực định, lý luận và xét xử) bao gồm hai hình thức lỗi - cố ý và vô ý. Hình thức lỗi cố ý được phân chia thành hai hình thức là cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp.
Hình thức lỗi vô ý được chia thành hai hình thức là vô ý phạm tội vì quá tự tin và vô ý phạm tội vì cẩu thả. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái niệm lỗi vô ý và cơ sở lý luận của việc quy định các tội phạm đƣợc thực hiện dƣới hình thức lỗi vô ý theo luật hình sự Việt Nam Theo Từ điển Tiếng Việt "vô ý" được hiểu là "không để ý đến" [56, tr. Như vậy, phạm tội do lỗi vô ý được hiểu là người phạm tội do bất cẩn, không để ý các quy tắc, quy định của đời sống xã hội nên đã gây nên thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản.
của người khác. "Lỗi vô ý là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội do không nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của các hành vi đó. Nói cách khác, không giống như lỗi cố ý, ở trường hợp lỗi vô ý người phạm tội không lựa chọn hành vi phạm tội" [23, tr. Có thể nhận thấy lỗi vô ý có các dấu hiệu cơ bản, một là - người phạm tội không nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình khi quyết định thực hiện hành vi đó và hai là - người phạm tội có đủ điều kiện để nhận thức được vấn đề đó và có điều kiện lựa chọn, thực hiện hành vi phù hợp với yêu cầu của xã hội.