Tổng quan nghiên cứu
Vấn đề an toàn thực phẩm tại Việt Nam đang là một trong những thách thức hàng đầu đối với sức khỏe cộng đồng và an sinh xã hội. Thực tế cho thấy nhiều vụ việc vi phạm nghiêm trọng như ngâm chuối trong thuốc diệt cỏ hay nhuộm vàng ô vào thịt gia cầm chỉ bị xử phạt hành chính ở mức 6,4 triệu đồng, tạo ra sự chênh lệch lớn giữa tính chất nguy hiểm của hành vi và chế tài áp dụng. Đề tài tập trung nghiên cứu toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự đối với tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm.
Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là làm rõ bản chất pháp lý của tội danh theo Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 1999, đánh giá thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm này trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2016, đồng thời luận giải những điểm mới tiến bộ tại Điều 317 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong không gian địa bàn thủ đô Hà Nội – trung tâm kinh tế, chính trị với hơn 7 triệu dân và mật độ lưu thông thực phẩm phức tạp từ 30 quận, huyện, thị xã. Ý nghĩa của công trình thể hiện qua việc chỉ rõ rào cản khiến tỷ lệ xử lý hình sự chỉ chiếm chưa đầy 1% so với hàng nghìn vụ xử lý hành chính, từ đó đề xuất các giải pháp lập pháp và thực thi nhằm kéo giảm tỷ lệ ngộ độc thực phẩm tại các đô thị lớn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hệ thống lý luận khoa học luật hình sự và tội phạm học Việt Nam, trọng tâm là:
- Lý thuyết cấu thành tội phạm: Phân tích 4 yếu tố bắt buộc bao gồm khách thể (quan hệ xã hội về quản lý an toàn thực phẩm và quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe), mặt khách quan (hành vi chế biến, cung cấp, bán thực phẩm bẩn; hậu quả và mối quan hệ nhân quả), chủ thể (cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định), và mặt chủ quan (lỗi cố ý hoặc vô ý).
- Lý thuyết tội phạm hóa và phi tội phạm hóa: Phân tích tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm làm căn cứ chuyển hóa chế tài từ xử phạt vi phạm hành chính sang truy cứu trách nhiệm hình sự.
Các khái niệm chính được làm sáng tỏ bao gồm: khái niệm thực phẩm theo Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12; khái niệm điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm; và định nghĩa khoa học về tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm trong cấu thành vật chất và cấu thành hình thức.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng chuyên sâu:
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp gồm các báo cáo tổng kết giai đoạn 2010 – 2016 của Công an thành phố Hà Nội, Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm Hà Nội, Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật từ năm 1945 đến năm 2017.
- Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu toàn bộ đối với 100% các vụ việc có dấu hiệu tội phạm an toàn thực phẩm bị phát hiện tại Hà Nội trong 6 năm (2010 – 2016), cùng mẫu khảo sát gồm 4 bảng số liệu thống kê liên quan đến các vụ ngộ độc thực phẩm toàn quốc và địa bàn Hà Nội.
- Phương pháp phân tích: Phương pháp thống kê xã hội học tư pháp nhằm phân loại hành vi vi phạm; phương pháp phân tích - tổng hợp quy phạm pháp luật; và phương pháp so sánh luật học đối chiếu với pháp luật của 3 quốc gia (Điều 143, 144 Bộ luật Hình sự Trung Quốc; Điều 7 Chương 13 Bộ luật Hình sự Thụy Điển; Đạo luật Thực phẩm Food Act B.E. 2522 của Thái Lan với mức phạt tù lên đến 10 năm và phạt tiền 100.000 bạt). Lý do lựa chọn các phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan, đa chiều và có giá trị đối chiếu thực tiễn cao.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
- Sự chênh lệch lớn giữa số vụ vi phạm thực tế và số vụ bị xử lý hình sự: Trong giai đoạn 2010 – 2016, mặc dù các đoàn kiểm tra liên ngành tại Hà Nội phát hiện hàng chục nghìn lượt cơ sở vi phạm quy định an toàn thực phẩm, xử phạt hành chính hàng chục tỷ đồng, nhưng số vụ án bị khởi tố, truy tố theo Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 1999 chỉ dừng lại ở con số dưới 5 vụ.
- Rào cản từ cấu thành tội phạm vật chất: Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định dấu hiệu bắt buộc phải "gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe của người tiêu dùng" mới cấu thành tội phạm. Do thiếu các thông tư liên tịch hướng dẫn cụ thể tỷ lệ thương tật bao nhiêu phần trăm là "nghiêm trọng", các cơ quan tiến hành tố tụng gặp bế tắc trong việc xử lý hình sự.
- Hành vi vi phạm ngày càng tinh vi và đa dạng: Số liệu cho thấy nhóm hành vi sử dụng hóa chất cấm, chất vàng ô (VAT Yellow), chất tạo nạc, phẩm màu công nghiệp và nguyên liệu động vật chết do dịch bệnh chiếm hơn 40% trong tổng số các vi phạm nghiêm trọng bị phát hiện.
- Bước chuyển mang tính đột phá của Bộ luật Hình sự năm 2015: Điều 317 đã chuyển từ cấu thành vật chất sang kết hợp cấu thành hình thức, quy định xử lý hình sự ngay khi sử dụng chất cấm hoặc chế biến sản phẩm từ động vật chết có giá trị từ 10 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng, hoặc thu lợi bất chính từ 5 triệu đồng trở lên mà không cần đợi hậu quả ngộ độc xảy ra.
Thảo luận kết quả
Khi phân tích dữ liệu qua các bảng thống kê diễn biến ngộ độc thực phẩm từ năm 2010 đến 2015, có thể thấy tính chất nguy hiểm của các vụ vi phạm ngày càng tăng. Sự tồn tại dai dẳng của thực phẩm bẩn xuất phát từ ba nguyên nhân cốt lõi:
Thứ nhất, lợi nhuận phi pháp thu được từ việc sử dụng hóa chất bảo quản và phụ gia cấm cao gấp hàng chục lần so với mức phạt hành chính từ 1 triệu đến 20 triệu đồng. Thứ hai, sự phân tán trong công tác quản lý nhà nước khi có tới 3 bộ ngành (Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Bộ Công Thương) cùng chịu trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm nhưng cơ chế phối hợp kiểm tra định kỳ và đột xuất chưa thực sự đồng bộ. Thứ ba, việc chứng minh mối quan hệ nhân quả y khoa giữa hành vi ăn thực phẩm chứa hóa chất tích tụ lâu ngày với các căn bệnh hiểm nghèo như ung thư là vô cùng nan giải trong thực tiễn điều tra. Việc Điều 317 Bộ luật Hình sự năm 2015 đưa ra các định lượng cụ thể (như gây ngộ độc từ 5 đến 20 người, hoặc gây tổn hại sức khỏe tỷ lệ từ 31% đến 60%) là lời giải căn cơ cho những vướng mắc mà thực tiễn Hà Nội đã gặp phải trong suốt giai đoạn 2010 – 2016.
Đề xuất và khuyến nghị
- Hoàn thiện thể chế và ban hành văn bản hướng dẫn thi hành: Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với Bộ Công an và Bộ Y tế khẩn trương ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn chi tiết việc định giá tang vật vi phạm, quy trình giám định hàm lượng chất độc hại và cơ chế xác định thiệt hại sức khỏe theo Điều 317 và Điều 193 Bộ luật Hình sự năm 2015 trước năm 2018.
- Nâng cấp năng lực kỹ thuật và trang thiết bị giám định: Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cần đầu tư ngân sách trang bị hệ thống kiểm nghiệm nhanh độc chất, tồn dư kháng sinh và vi sinh vật đạt chuẩn ISO/IEC 17025 cho 100% các đội quản lý thị trường và trung tâm y tế quận, huyện, rút ngắn thời gian xét nghiệm mẫu từ 7 ngày xuống dưới 24 giờ.
- Tăng cường phối hợp liên ngành trong thanh tra, điều tra: Lực lượng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (PC49 Công an TP. Hà Nội) chủ trì phối hợp với Thanh tra Y tế và Chi cục Quản lý thị trường tổ chức kiểm tra đột xuất tối thiểu 2 lần/năm đối với 100% các cơ sở giết mổ tập trung, chợ đầu mối nông sản và kho lạnh thực phẩm trên địa bàn.
- Mở rộng hợp tác quốc tế và tuyên truyền giáo dục pháp luật: Bộ Y tế và Bộ Công Thương học tập mô hình kiểm soát chuỗi cung ứng "Từ đồng ruộng tới bàn ăn" của Thái Lan, đồng thời triển khai chương trình truyền thông phổ biến quy định pháp luật hình sự mới đến hơn 90% hộ kinh doanh, doanh nghiệp chế biến thực phẩm tại Hà Nội giai đoạn 2017 – 2020.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Cơ quan tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán): Nắm vững cấu thành tội phạm theo Điều 244 BLHS 1999 và phương pháp thu thập, chuyển hóa chứng cứ xử lý theo Điều 317 BLHS 2015.
- Cơ quan quản lý nhà nước và thanh tra chuyên ngành: Cán bộ Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Chi cục Thú y, Quản lý thị trường sử dụng luận văn làm cẩm nang phân định ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự.
- Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật học: Tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cao về lịch sử lập pháp hình sự, phân tích so sánh luật hình sự quốc tế và phương pháp luận nghiên cứu tội phạm học.
- Doanh nghiệp và chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm: Nắm rõ các rủi ro pháp lý, khung hình phạt tiền từ 50 triệu đến 500 triệu đồng và các mức phạt tù nghiêm khắc để chủ động xây dựng quy trình kiểm soát nguyên liệu đạt chuẩn.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao trước đây các vi phạm an toàn thực phẩm nghiêm trọng rất khó xử lý hình sự theo Điều 244 BLHS 1999?
Nguyên nhân chủ yếu do Điều 244 BLHS 1999 quy định cấu thành vật chất bắt buộc phải có hậu quả "gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe". Thực tế điều tra tại Hà Nội giai đoạn 2010 – 2016 cho thấy rất khó chứng minh hành vi bán thực phẩm bẩn là nguyên nhân trực tiếp duy nhất dẫn đến bệnh tật, khiến hơn 98% vụ việc chỉ dừng lại ở xử phạt vi phạm hành chính.
2. Điều 317 BLHS năm 2015 giải quyết điểm nghẽn pháp lý này như thế nào?
Điều 317 đã bổ sung cấu thành hình thức. Cơ quan tiến hành tố tụng có thể khởi tố ngay khi đối tượng có hành vi sử dụng chất cấm, kháng sinh cấm mà giá trị sản phẩm từ 10 triệu đồng trở lên, hoặc thu lợi bất chính từ 5 triệu đồng trở lên, không bắt buộc phải chờ đến khi xảy ra hậu quả ngộ độc thực tế.
3. Mức phạt tiền bổ sung đối với tội phạm an toàn thực phẩm thay đổi như thế nào?
Theo BLHS 1999, mức phạt tiền bổ sung chỉ từ 5 triệu đến 50 triệu đồng. Trong khi đó, Điều 317 BLHS 2015 đã nâng mức phạt tiền chính lên tới 500 triệu đồng và phạt tiền bổ sung từ 20 triệu đến 100 triệu đồng, đồng thời áp dụng hình phạt cấm hành nghề từ 1 đến 5 năm.
4. Kinh nghiệm quản lý an toàn thực phẩm của Thái Lan có gì đáng chú ý?
Thái Lan áp dụng Đạo luật Thực phẩm Food Act với khung hình phạt tù tối đa 10 năm và phạt tiền 100.000 bạt. Họ triển khai thành công chiến lược "Từ đồng ruộng tới bàn ăn", kiểm soát chặt chẽ 5 công đoạn: nhập khẩu nguyên liệu, sản xuất đồng ruộng, tiêu chuẩn thiết bị, kiểm tra đầu ra và giám sát lưu thông thị trường.
5. Pháp nhân thương mại có phải chịu trách nhiệm hình sự về tội an toàn thực phẩm không?
Theo BLHS năm 2015, tội phạm theo Điều 317 chưa áp dụng đối với pháp nhân thương mại. Tuy nhiên, nếu hành vi cấu thành Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm theo Điều 193, pháp nhân thương mại có thể bị phạt tiền từ 1 tỷ đến 18 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm trong luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay.
- Chỉ rõ những bất cập thực tiễn trong việc áp dụng Điều 244 BLHS 1999 trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2016 khiến hiệu quả răn đe chưa cao.
- Phân tích sâu sắc tính ưu việt và các điểm mới mang tính đột phá của Điều 317 và Điều 193 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Đưa ra hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về hoàn thiện pháp luật, nâng cao năng lực giám định, phối hợp liên ngành và mở rộng hợp tác quốc tế.
- Đóng góp nguồn tư liệu khoa học thiết thực phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu lập pháp và thực tiễn xét xử tội phạm an toàn thực phẩm trong giai đoạn mới. Quý độc giả, học viên và chuyên gia quan tâm có thể tìm đọc toàn văn công trình nghiên cứu để tiếp cận trọn vẹn hệ thống dữ liệu và các luận điểm khoa học chi tiết.