Chương 1: Một số vấn chung về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng Chương 2: Thực trạng tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng trong nền kinh tế thị trường Việt Nam Chương 3: Phương hướng hoàn thiện pháp luật hình sự về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ RỪNG 1. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng trƣớc khi có Bộ luật hình sự năm 1999 1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 Cách mạng tháng 8 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam.
Cùng với việc ra đời của Nhà nước, nhân dân ta vừa phải xây dựng, củng cố chính quyền vừa phải tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đảng ta đã xác định ba nhiệm vụ lớn ngay khi giành được độc lập là diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm, trong đó giữ vững chính quyền là nhiệm vụ hàng đầu. Với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội giai đoạn này không cho phép Nhà nước ban hành ngay các văn bản pháp luật. Do vậy, ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 47/SL quy định tạm thời về việc sử dụng luật lệ cũ hiện hành ở Việt Nam, trong đó có Bộ “Luật hình An Nam”, Bộ “Hoàng Việt hình luật” và Bộ “Hình pháp tu chính”.
Theo nội dung của Sắc lệnh này, thì khi xét xử, Toà án xét xử theo luật hình cũ mà thực dân phong kiến đã đề ra nhưng với điều kiện không được trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hoà [26, tr. Ở giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954, việc xét xử các tội phạm nói chung và tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng nói riêng chủ yếu vẫn dựa vào luật lệ hình sự cũ. Nhìn chung, thời kỳ này chúng ta chỉ có một số ít các văn bản pháp luật quy định về các hành vi vi phạm khai thác và bảo vệ rừng như: Sắc lệnh số 142/SL ngày 21/12/1949 quy 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com định việc lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng; Sắc lệnh số 26/SL ngày 25/02/1946 về các tội phá hoại công sản; Sắc lệnh số 267/SL ngày 15/6/1956 về các âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước, của Hợp tác xã và của nhân dân làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch Nhà nước. Năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, nước ta chia thành hai miền.
Miền Bắc hoàn toàn giải phóng và tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, Miền Nam tiếp tục tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội ở miền Bắc đã có những biến đổi căn bản so với trước đó, do vậy toàn bộ hệ thống pháp luật của chế độ cũ không được phép áp dụng nữa [26, tr. Cũng trong thời kỳ này đã xuất hiện một số văn bản pháp luật điều chỉnh các hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng có giá trị pháp lý cao như: Pháp lệnh quy định về quản lý Nhà nước đối với công tác phòng cháy và chữa cháy (ngày 27/9/1961); Nghị định số 221- CP ngày 29/12/1961 của Hội đồng Chính phủ về việc phòng cháy và chữa cháy rừng; Nghị định số 39-CP ngày 05/4/1963 của Hội đồng Chính phủ ban hành điều lệ tạm thời về săn, bắt chim, thú rừng; Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa (ngày 21/10/1970); Pháp lệnh ngày 06/9/1972 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định việc bảo vệ rừng; Nghị quyết số 155-CP ngày 03/10/1973 của Hội đồng Chính phủ về việc thi hành pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng…. Đặc biệt, trong thời kỳ này vấn đề bảo vệ rừng đã được đề cập trong đạo luật cao nhất của Nhà nước ta- Hiến pháp năm 1980.
Điều 36 Hiến pháp năm 1980 quy định: “Các cơ quan Nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải thiện môi trường sống”. Quy định này đã 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đặt cơ sở pháp lý quan trọng và cơ bản nhất cho sự điều chỉnh của pháp luật đối với việc khai thác và bảo vệ rừng. Trước hết cần phải kể đến Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa ngày 21/10/1970. Mặc dù Pháp lệnh này không quy định tội khai thác và bảo vệ rừng nhưng những quy định của pháp lệnh này cũng có thể áp dụng để trừng trị những hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ rừng; tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép lâm sản; cố ý huỷ hoại tài nguyên rừng; cố ý làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ, thể lệ về bảo vệ rừng, gây thiệt hại đến tài nguyên rừng; thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc cố ý làm cháy rừng.
Cụ thể là các tội: Tội cố ý huỷ hoại hoặc làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 6); Tội cố ý làm trái các nguyên tắc, chính sách, chế độ, thể lệ về kinh tế, tài chính, gây thiệt hại đến tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 12); Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 14); Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 18). Ví dụ, Điều 14 quy định: 1. Kẻ nào có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản xã hội chủ nghĩa, vì tinh thần trách nhiệm mà không chấp hành hoặc chấp hành không đúng các nguyên tắc, chính sách, chế độ, thể lệ, để mất mát, hư hỏng, lãng phí, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt tù từ sáu tháng đến bảy năm. Phạm tội trong trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm [23, tr.
Căn cứ vào quy định trên đây thì hành vi thiếu tinh thần trách nhiệm, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài nguyên rừng đều bị xử lý theo Điều 14 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa. Hành vi này một mặt xâm hại trực tiếp đến tài sản xã hội chủ nghĩa, mặt khác cũng xâm 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hại đến chế độ bảo vệ rừng của Nhà nước ta. Tuy nhiên, trong các trường hợp này khách thể trực tiếp được bảo vệ ở đây là tài sản xã hội chủ nghĩa. Ngày 06/9/1972, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng.
Theo đó tất cả các hành vi gây thiệt hại đến rừng đều bị nghiêm cấm. Đó là: Cấm phá rừng. Những rừng tự nhiên và rừng trồng đều phải được bảo vệ nghiêm ngặt (Điều 3); Cấm mọi hành động chặt cây rừng trái với các điều quy định của Nhà nước (Điều 4); Chính phủ quy định những khu rừng cấm nhằm bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ di tích lịch sử, bảo vệ sức khoẻ, nghiên cứu khoa học hoặc các lợi ích đặc biệt khác. Ở những khu rừng này, cấm chặt cây, trừ trường hợp để dọn rừng và tu bổ rừng, cấm săn, bắt chim, muông, thú rừng (Điều 5); Cấm phá rừng, đốt rừng để làm nương dẫy (Điều 6); Cấm đốt lửa ở trong rừng và ven rừng để dọn đường, hạ cây, lấy củi, săn bắt thú rừng; cấm đốt đồi, bãi thuộc đất rừng để nuôi cỏ non (Điều 7); Cấm ngặt việc thả rông gia súc ở những khu rừng non, rừng mới trồng hoặc mới dặm cây non (Điều 8).
Về đường lối xử lý đối với những hành vi vi phạm một trong những điều quy định tại chương II của Pháp lệnh hoặc hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép lâm sản. Quy định hai trường hợp: Thứ nhất: Nếu vi phạm mà không gây thiệt hại lớn đến tài nguyên rừng thì bị cảnh cáo hoặc bị phạt tiền từ 01 đồng đến 200 đồng. Cơ quan kiểm lâm nhân dân huyện có quyền cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 100 đồng. Trong trường hợp số tiền phạt quá 100 đồng thì cơ quan kiểm lâm nhân dân tỉnh xét và xử lý (Điều 21 Pháp lệnh).
Thứ hai: Nếu vi phạm mà gây thiệt hại lớn đến tài nguyên rừng hoặc đã bị xử phạt mà còn vi phạm thì sẽ bị truy tố trước Toà án nhân dân và có thể bị phạt từ 03 tháng đến 02 năm và phạt tiền từ 200 đồng đến 2.000 đồng, hoặc một trong hai hình phạt đó. Nếu cố ý huỷ hoại tài nguyên rừng hoặc cố ý làm 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trái nguyên tắc, chính sách, chế độ, thể lệ về bảo vệ rừng gây thiệt hại đến tài nguyên rừng; thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc vô ý làm cháy rừng hay là có những hành động khác gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài nguyên rừng thì bị xử phạt theo Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa ngày 21/10/1970. Nếu người vi phạm cố ý phá hoại tài nguyên rừng vì mục đích phản cách mạng thì bị xử phạt theo Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967 (Điều 22). Ngoài ra, Điều 24 của Pháp lệnh cũng quy định: Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn ra lệnh cho người thuộc quyền mình chặt, phá rừng hoặc làm những việc khác gây thiệt hại đến tài nguyên rừng thì cũng bị xử lý theo các Điều 21, 22, 23 của Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng.
Có thể khẳng định, Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng năm 1972 đã quy định tương đối cụ thể và chi tiết các hành vi xâm hại đến rừng. Không giống với Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, các chế tài áp dụng đối với các hành vi huỷ hoại rừng, làm cháy rừng, xâm phạm các động, thực vật trong rừng… được quy định trong Pháp lệnh bảo vệ rừng năm 1972 không những là chế tài nhằm bảo vệ trực tiếp tài sản xã hội chủ nghĩa mà còn là chế tài để bảo vệ và phát triển rừng cũng như các tài nguyên thiên nhiên khác có trong rừng.