Đặt vấn đề Trong những năm gần đây xu hƣớng trên thế giới dùng các loại thuốc và trà từ các loại cây dƣợc liệu ngày càng nhiều. Một số dạng chế phẩm từ dƣợc liệu có thể kể đến nhƣ cao thuốc, dạng cốm, cồn thuốc, thuốc bột, thuốc hoàn, thuốc thang….Trong đó cao thuốc đƣợc biết đến là một loại chế phẩm đƣợc sản xuất trên quy mô công nghiệp phổ biến nhất hiện nay. Cao thuốc có những ƣu điểm vƣợt trội hơn các loại chế phẩm từ dƣợc liệu khác nhƣ: bao bì nhỏ gọn, thuận tiện trong việc sử dụng, có thể sản xuất ở quy mô công nghiệp dễ dàng. Ngoài ra, cao thuốc còn đƣợc xem là chế phẩm trung gian để điều chế các dạng thuốc khác.
Mở ra nhiều hƣớng phát triển mới sản xuất từ các nguyên liệu thực vật tự nhiên và đang đƣợc mọi ngƣời chú ý quan tâm.[12] Nƣớc ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, chịu ảnh hƣởng của gió mùa, nhiệt độ trung bình 250C, độ ẩm khá cao tạo điều kiện thuận lợi cho cây cối thực vật phát triển nên nguồn dƣợc liệu rấ t phong phú. Rau má và rau sam là các loại rau phổ biến với ngƣời dân Việt Nam. Chúng mọc ở những nơi đất ẩm và có sản lƣợng lớn, có rất nhiều tác dụng nhƣ thanh nhiệt, tác dụng đối với tim mạch, tác dụng tốt cho hệ thần kinh là đẹp da, chống lão hóa và đặc biệt cả 3 loại rau trên đều có những chất thuộc nhóm saponins, các nhóm vitamin nhóm B (B1,B2,B6…), C, K, hợp chất flavonoid, đặc biệt phytosterol là một chất có tác dụng làm giảm lƣợng cholesterol trong máu, tránh hiện tƣợng sơ vữa động mạch [25]. Ngày nay, việc dùng các loại trà hay thực phẩm chức năng có nguồn gốc thiên nhiên ngày càng đƣợc ƣa chuộng và các công trình nghiên cứu về chúng cũng không ngừng phát triển[1].
Qua các công trình nghiên cứu cho thấy khi sử dụng các loại trà, thực phẩm chức năng có nguồn gốc thực vật có ít tác dụng phụ gây hại, rẻ, thân thiện, dễ kiếm và gần gũi với con ngƣời. Đây chính là lí do quan trọng mà ngày nay các loại trà có nguồn gốc thiên nhiên ngày càng chiếm đƣợc lòng tin của ngƣời tiêu dùng. Chính vì những lí do trên chúng tôi tiến hành thƣ̣c hiê ̣n đề tài nghiên cứu “ Tối ƣu hóa các điều kiện tách chiết cao rau má và cao rau sam dựa trên khả năng chống oxy hóa” n 2 1. Mục đích – yêu cầu – ý nghĩa 1.
Mục đích - Khảo sát các yế u tố ảnh hƣởng đế n quá trình tách chiế t cao rau má và cao rau sam. - Tố i ƣu hóa các điề u kiê ̣n tách chiế t cao rau má và cao rau sam dƣ̣a trên khả năng chố ng oxy hóa. Yêu cầu - Lựa chọn phƣơng pháp tách chiết cao rau má, cao rau sam. - Xác định các yếu tố ảnh hƣởng đến quá trình tách chiết cao rau má và cao rau sam.
+ Nồng độ dung môi tách chiết + Thời gian tách chiết + Tỷ lệ nguyên liệu / dung môi tách chiết - Tối ƣu hóa các điều kiện ảnh hƣởng tới quá trình tách chiết dựa trên khả năng chống oxy hóa của cao rau má và cao rau sam thu đƣơ ̣c. Ý nghĩa khoa học - Xây dựng đƣợc quy trình sản xuất cao rau má, cao rau sam tối ƣu. - Cung cấp những thông tin, tƣ liệu làm cơ sở cho việc nghiên cứu sau này. Ý nghĩa thực tiễn - Nhằm giúp cho việc ứng dụng rau má, rau sam một cách khoa học hơn trong vấn đề chăm sóc sức khỏe.
- Giải thích một cách khoa học một số kinh nghiệm dân gian về ứng dụng của rau má và rau sam. - Tổng hợp kiến thức về hợp chất thiên nhiên phục vụ cho công tác sau này. - Xây dựng quy trình sản xuất trà túi lọc từ các dịch chiết 2 loại rau này n 3 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về cây rau má 2.
Nguồn gốc và đặc điểm cây rau má 2. Nguồn gốc [18] Rau má còn có tên là Tích tuyết thảo hoặc lôi công thảo. Có tên khoa học : Centella asiatica Giới : Plantae Thuộc bộ : Apiales Họ : Apiaceae Phân họ : Mackinlayoideae Chi : Centella Loài : C.1: Rau má cộng tím Rau má mèo Rau má mỡ Rau má c ó nguồn gốc từ Australia, các đảo ở Thái Bình Dƣơng, New Guinea, Melanesia và Châu Á. Nó đƣợc sử dụng nhƣ một loại rau hằng ngày cũng nhƣ một loại cây y học Việt Nam và y học cổ truyền Trung Hoa.
Tên khoa học đồng nghĩa là Hydrocotyle asiatica L., Trisanthus cochinchinensis Lour. Ngoài ra cây rau má còn biết đến với nhiều tên gọi khác nhau nhƣ : tích tuyết thảo(Trung Quốc) , Phanok (Lào), Trachiek kranh (Myanma), Gotu kola (Sri Lanka, Ấn Độ), Pegagan (Inddooneeessia), Takip kohol (Philippine), Bua-bok (Thailand), Indian pennywort (Anh). Hiện nay rau má có 3 giống chủ yếu : Giống rau má cọng tím ( Thân tím, phiến lá có hình răng cƣa), Giống rau má mèo (Cây thấp, lá nhỏ, bò sát mặt đất) và n 4 giống rau má mỡ (Thân to, lá to và xanh mƣớt). Ngoài ra, còn có các giống khác nhƣ rau má Tây Phi, rau má Thái, rau má Nhật…[13] 2.
Đặc điểm thực vật của cây rau má Thân : Thân rau má gầy và nhẵn, là loại thân bò lan, màu xanh lục hay lục ánh đỏ, có rễ ở các mấu. Nó có các lá hình thận, màu xanh với cuống lá dài và phần đỉnh lá tròn, kết cấu trơn nhẵn với các gân lá dạng chân vịt. Các lá mọc ra từ cuống dài khoảng 5 – 20 cm. Bộ rễ bao gồm các thân rễ, mọc thẳng đứng.
Hoa và quả: Hoa rau má có màu trắng phớt, mọc thành các tán nhỏ. Tròn gần mặt đất. Mỗi hoa đƣợc bao phủ một phần trong 2 lá bắc màu xanh. Các hoa lƣỡng tính này khá nhỏ (nhỏ hơn 3mm), với 5 – 6 thùy tràng hoa.
Hoa có 5 nhị và 2 vòi nhụy. Quả có hình mắt lƣới dày đặc, đây là đặc điểm phân biệt nó với các loài hoa trong họ chi Hydrocotyle có quả với bề mặt trơn, sọc hay giống nhƣ mụn cơm. Quả của nó chín sau 3 tháng và toàn bộ cây, bao gồm cả rễ, và đƣợc thu hái thủ công[5]. Nơi sống và thu hái: Rau má thƣờng mọc ở những nơi ẩm ƣớt nhƣ bên các bờ mƣơng , kênh hay mọc khoang khắp nơi, cỗ ẩm mát và ngày nay đang đƣợc trồng nhƣ một loại rau phổ biến.
Rau má thƣờng đƣợc trồng quanh năm nhƣng trồng cuối mùa mƣa phát triển tốt hơn. Rau má khá nhạy cảm với thời tiết, môi trƣờng. Những nơi có nhiều sƣơng mù thƣờng làm cho cây úa vàng và cần tƣới rửa vào mỗi buổi sáng. Những cơn mƣa đầu mùa dù lớn hay nhỏ cũng cần tƣới nƣớc, rửa axit và tránh môi trƣờng thay đổi đột ngột làm cây hƣ hỏng.
Rau má thƣờng hay đƣợc sử dụng tƣơi[4][12].Thành phần hóa học Nghiên cứu cho thấy thành phần hóa học của cây rau má rất phong phú (bảng 2. Ngoài ra, rau má còn chứa sterol (β- sitosterol, stigmasterol, campestrol), Flavonoid (kaempferol, quercetin), saponin (triterpenoid và saponid steroid), alkaloid, saccharide, glyceride của các acid:oleic, linolenic. Linolic, palmitic, và các stearic, glucorit, β-farnesen (56,09%), β-cariophilen (4,56%), β- elemen (4,28%), oxid cariophilen (3,64%).Fe, Mn, K, Zn, các loai vitamin B1, B2 n 5 ,B6 và K. Tùy theo khu vực trồng hoặc mùa vụ thu hoạch tỷ lệ các chất trong rau má có thể sai lệch khác nhau không đáng kể.
Thành phần hóa học của cây rau má [18][19] STT Thành phần hóa học Hàm lƣợng 1 Nƣớc 88,20(% khối lƣợng) 2 Protein 3,20% chất khô 3 Cacbohydrat 1,80% chất khô 4 Xenlullose 4,50% chất khô 5 Vitamin C 3,70 mg% 6 Vitamin B1 0,15 mg% 7 Canxi 2,29 mg% 8 Phốtpho 2,00 mg% 9 Sắt 3,10 mg% 10 - Caroten 1,30 mg% Hầu hết cây rau má đều chứa tinh dầu và chất béo, chất béo chủ yếu là glyceride của các acid:oleic, linolenic. Linolic, palmitic, và các stearic. Đã sử dụng phƣơng pháp chƣng cất hơi nƣớc để tách chiết tinh dầu của cây rau má và xác định đƣợc 19 hợp chất đƣợc tìm thấy từ tinh dầu rau má. Hoạt tính sinh học và công dụng của cây rau má Rau má là loại rau tƣơng đối phổ biến thƣờng thu hái loại rau má riêng lẻ, cả lá và thân, rễ, rửa sạch, làm món rau sống trong bữa ăn hoặc có thể giã nát (hoặc xay) vắt lấy nƣớc, bỏ thêm ít đƣờng uống giải nhiệt, giải khát trong những ngày nắng nóng, hay dùng để làm các bài thuốc trị bệnh thông thƣờng cảm cúm, sốt, nhức đầu, viêm họng, cổ đau.
Chúng đóng vai trò quan trọng trong tác dụng làm lành vết thƣơng và các tác động lên mạch máu. Những thành phần khác nhƣ brahmoside và brahminoside có thể liên quan đến thần n 6 kinh trung ƣơng và tác dụng giãn tử cung, tuy nhiên vẫn chƣa đƣợc chứng minh trên lâm sàng. Dịch chiết thô chứa glycoside nhƣ isothankuniside và thankuniside cho thấy hiệu quả tránh thai trên chuột [33]. Centelloside và dẫn xuất của nó có tác dụng trong điều trị tăng áp tĩnh mạch Ngoài ra, các thành phần khác nhƣ flavonoid (kaempferol, quercetin và các dẫn xuất liên quan) đã đƣợc chứng minh có hoạt tính chống oxi hóa, kháng viêm, kháng khuẩn[33].
Các kết quả thử nghiệm lâm sàng rau má có tác dụng tốt đối với hệ thần kinh, làm tăng khả năng tập trung, chống lão hóa. Trong một nghiên cứu trên chuột, khi sử dụng dịch chiết của rau má theo đƣờng uống với liều 50 mg/kg/ngày trong 14 ngày giúp tăng đáng kể các enzym chống oxy hóa, nhƣ superoxide dismutase (SOD), catalase và glutathione peroxidase (GSHPx)[34]. Đối với da, nhiều công trình nghiên cứu và kết quả lâm sàng đều cho thấy dịch chiết rau má có khả năng kích hoạt các tiến trình sinh học trong việc phân chia tế bào và tái tạo mô liên kết giúp vết thƣơng chóng lành và mau lên da non. Hiện nay rau má đƣợc sử dụng rất rộng rãi và đa dạng dƣới hình thức thuốc tiêm, thuộc bột, thuốc mỡ, để điều trị các bệnh về da nhƣ vết bỏng, vết thƣơng do chấn thƣơng, do giải phẫu, những vết lở loét lâu lành, vết lở do ung thƣ, bệnh phong, vẩy nến…[39] Ở Trung Quốc rau má đƣợc dùng trị cảm mạo phong nhiệt, viêm phần trên đƣờng hô hấp, viêm gan, lỵ, ăn phải vật có độc, viêm màng phổi, rắn cắn , gai dâm vào thịt, trúng độc nấm dại,ngộ độc sắn, ngộ độc thức ăn.
[11] Một nghiên cứu khác của nhóm Bonte (1994, 1995), Tenni (1988) và Maquart (1990) từ các dịch tinh chế rau má đã giải thích tại sao rau má có tác động mạnh mẽ lên việc duy trì làn da mạnh khỏe và ngăn chặn hiệu quả lão hóa .