CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LỰA CHỌN ĐẦU VÀO VỐN VÀ LAO ĐỘNG TỐI ƯU ĐỂ TỐI THIỂU HÓA CHI PHÍ SẢN XUẤT 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Lý luận về vốn trong sản xuất kinh doanh 1. Khái niệm Khái niệm của vốn xuất hiện khi có sự ra đời của nền kinh tế hàng hóa.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì vốn càng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với doanh nghiệp nói riêng. Dưới góc độ các yếu tố sản xuất “vốn (tư bản) là giá trị đem lại giá trị thặng dư” (Marx, Angghen, 1993) để sản xuất kinh doanh. Khái niệm này mang tính chất đơn giản chưa phản ánh được tính kinh hoạt của vốn. Theo quan niệm rộng: vốn không chỉ đơn thuần là tiền tệ mà nó còn bao gồm các nguồn lực như tài nguyên, đất đai, trí tuệ, máy móc thiết bị, phát minh sáng chế, lợi thế so sánh, v.v…, khái niệm này cho chúng ta có một cái nhìn sâu rộng hơn về vốn, nó là tất cả những gì mà công ty có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh (R.
lieberman, 1997) Theo Trần Thế Dũng (2008): “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp phải đạt tới mục tiêu sinh lời và luôn thay đổi hình thái biểu hiện, nó vừa tồn tại dưới hình thái vật tư hoặc tài sản vô hình, nhưng kết thúc vòng tuần hoàn phải là hình thái tiền”. Ngoài ra vẫn còn nhiều quan niệm khác, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận này thì vốn được hiểu là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ vật tư, tài sản được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời. Theo đó vốn được chia làm 2 loại: Vốn lưu động và vốn cố định.
Vốn cố định của doanh nghiệp là biểu hiện giá trị tính bằng tiền của tài sản cố định của doanh nghiệp hay là toàn bộ giá trị bỏ ra để đầu tư vào tài sản cố định nhằm phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn lưu động của doanh nghiệp là biểu hiện giá trị tính bằng tiền của tài sản lưu động và vốn lưu thông sử dụng trong kinh doanh. Những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng vốn của doanh nghiệp Nhân tố vĩ mô Thứ nhất: Chính sách quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Hệ thống các chủ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trương, chính sách, pháp luật do Nhà nước đặt ra trực tiếp và gián tiếp tác động lên tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Nếu doanh nghiệp kinh doanh theo những lĩnh vực được Nhà nước khuyến khích thì họ sẽ có những điều khiện thuận lợi để phát triển và ngược lại. Chỉ một sự thay đổi nhỏ trong cơ chế quản lý của Nhà nước cũng sẽ làm ảnh hưởng tới hoạt động của doanh nghiệp. Thứ hai: Thị trường các yếu tố đầu vào vốn và lao động. Trong điều kiện đầu ra không đổi, nếu giá cả của các yếu tố đầu vào biến động theo chiều hướng tăng lên sẽ làm tăng chi phí và làm giảm lợi nhuận, từ đó hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh giảm xuống.
Đối với giá cả sản phẩm hàng hóa đầu ra của doanh nghiệp trên thị trường, nếu biến động sẽ làm thay đổi khối lượng tiêu thụ, thay đổi doanh thu. Cả hai sự thay đổi này đều dẫn đến kết quả lợi nhuận thay đổi, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng thay đổi. Thứ ba: Sự tăng trưởng của nền kinh tế. Khi nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế quốc gia nói riêng ổn định, phát triển sẽ tạo cơ hội cho công ty nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Các yếu tố kinh tế như: Tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ lạm phát, lãi suất ngân hàng… đều tác động tới tốc độ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó tác động đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Thứ tư: Nhân tố công nghệ. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ đã tạo ra những thời cơ thuận lợi trong việc phát triển sản xuất kinh doanh. Nhưng mặt khác nó cũng đem đến những nguy cơ cho các doanh nghiệp nếu như không bắt kịp được tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật, khi đó các tài sản của doanh nghiệp sẽ xảy ra hiện tượng hao mòn vô hình và doanh nghiệp sẽ xảy ra hiện tượng suy giảm vốn kinh doanh.
Nhân tố vi mô Thứ nhất: Trình độ quản lý, tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Cơ cấu tổ chức hoạt động kinh doanh gọn nhẹ, hợp lý, hiệu quả sẽ giúp cho công ty giảm được chi phí quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, có những chính sách định hướng sử dụng vốn hiệu quả. Thứ hai: Trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh. Việc ứng dụng các phầm mềm quản lý, áp dụng công nghệ máy móc thiết bị hiện đại giúp cho doanh nghiệp có giá thành sản xuất thấp, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm cao, nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Việc sử dụng công nghệ hiện đại sẽ yêu cầu doanh nghiệp sử dụng nhiều vốn nhưng nhờ đó có thể tăng năng suất lao động và giảm được một số chi phí. Tuy nhiên, nếu đầu tư tràn lan, thiếu định hướng thì việc đầu tư này sẽ không mang lại hiệu quả như mong muốn. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ ba: Khả năng tài chính. Quy mô vốn đầu tư và khả năng huy động vốn quyết định quy mô các hoạt động của công ty trên thị trường.
Việc này ảnh hưởng đến việc nắm bắt các cơ hội kinh doanh lớn, mang lại nhiều lợi nhuận cho công ty. Khả năng tài chính cũng ảnh hưởng tới việc áp dụng các công nghệ hiện đại vào sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Lý luận về lao động trong sản xuất kinh doanh 1. Khái niệm Theo Phạm Đức Thành (1995) thì trong kinh tế học lao động được hiểu là: “Một yếu tố sản xuất do con người tạo ra và là một dịch vụ hay hàng hóa.
Người có nhu cầu về hàng hóa này là người sản xuất, còn người cung cấp hàng hóa này là người lao động. Lao động cũng như mọi hàng hóa dịch vụ khác, lao động được trao đổi trên thị trường gọi là thị trường lao động. Giá của lao động là tiền công thực tế mà người sản xuất trả cho người lao động. Mức tiền công chính là mức giá của lao động”.
Theo Bộ Luật Lao Động(1998) của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nêu rõ: “Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất chất lượng hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước”. Như vậy có thể nói, lao động chính là việc sử dụng sức lao động của con người tác động một cách có ý thức vào nguyên vật liệu nhằm biến nó theo ý thức của người lao động. Khi nói đến lao động trong doanh nghiệp thì có nghĩa là bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong doanh nghiệp, gồm lao động trực tiếp và gián tiếp tham gia sản xuất kinh doanh.
Những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng lao động của doanh nghiệp Nhân tố bên ngoài - Khung cảnh kinh tế: Trong giai đoạn phát triển kinh tế, các doanh nghiệp có nhu cầu mở rộng sản xuất do vậy cần tuyển thêm lao động, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công nhân viên. Ngược lại khi nền kinh tế suy thoái, bất ổn đòi hỏi doanh nghiệp vừa phải duy trì lực lượng lao động có tay nghề, năng lực, vừa phải giảm chi phí lao động. Doanh nghiệp có thể phải cho người lao động nghỉ tạm thời hoặc nghỉ hẳn, giảm phúc lợi. - Dân số và lực lượng lao động trong xã hội: Cơ cấu lao động được thể hiện qua tuổi tác, giới tính, trình độ dân trí, chuyên môn tay nghề.
Quy mô dân số càng lớn, tốc độ tăng dân số càng cao thì dẫn đến quy mô tăng nguồn nhân lực càng lớn 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và ngược lại. Dân số đông và chủ yếu ở độ tuổi lao động sẽ cung cấp nguồn nhân lực dồi dào, doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn trong công tác tuyển lao động. - Môi trường luật pháp: Những văn bản pháp luật có liên quan đến vấn đề lao động, sử dụng lao động, đây là khung pháp lý cho cách doanh nghiệp giải quyết mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động, là tiền đề để doanh nghiệp xây dựng các tiêu chuẩn pháp lý khi hình thành, củng cố và phát triển nguồn nhân lực. - Khoa học và công nghệ: Sự tiến bộ của khoa học, công nghệ, kỹ thuật cho phép các doanh nghiệp lựa chọn chính sách nhân sự, sử dụng nhiều lao động hay ít lao động, từ đó ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu và chất lượng nguồn lực của doanh nghiệp.
Nhân tố bên trong - Quy mô và đặc trưng của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Doanh nghiệp có quy mô càng lớn, mạng lưới kinh doanh càng rộng thì nhu cầu sử dụng lớn cả về chất lượng và số lượng lao động. Tùy theo đặc thù lĩnh vực kinh doanh, có ngành cần sự khéo léo, tỉ mỉ sử dụng nhiều lao động nữ, có những ngành sử dụng nhiều máy móc kỹ thuật, công việc nặng nhọc cần nhiều công nhân nam. - Trình độ quản lý, tổ chức của doanh nghiệp: Một nhà lãnh đạo giỏi sẽ nhìn nhận được năng lực và tiềm năng có thể khai thác của đội ngũ nhân viên để có chính sách bồi dưỡng, đào tạo phù hợp. Việc bố trí, tổ chức lao động phát huy ưu điểm của từng người đồng thời tạo ra môi trường cạnh tranh là động lực của sự phát triển.
Bộ máy quản lý gọn nhẹ, linh hoạt, có sự phân chia nhiệm vụ chức năng rõ ràng, hợp lý với đội ngũ quản lý nhân viên có năng lực, tinh thần trách nhiệm cao sẽ đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh và năng suất lao động đạt hiệu quả cao. - Chính sách tuyển dụng, lương thưởng: Nếu doanh nghiệp có chế độ đãi ngộ, chính sách lương cao sẽ thu hút được nhiều lao động có năng lực, tay nghề, chuyên môn cao.