Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI TRỐN THUẾ 1. Các qui định của pháp luật về tội trốn thuế qua các giai đoạn lịch sử Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập. Chính quyền non trẻ cùng lúc phải đối phó với thù trong, giặc ngoài lại gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế. Để bảo vệ thành quả của cuộc cách mạng tháng Tám, Nhà nước ta hết sức chú trọng đến việc giữ vững an ninh quốc gia đồng thời xây dựng hệ thống pháp luật nhằm ổn định và phát triển kinh tế xã hội.
Đặc điểm chung của pháp luật thời kỳ này là chưa có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, hệ thống hoá các qui định của pháp luật còn hạn chế trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế. Tuy nhiên, trước sự phát triển kinh tế từng ngày, đòi hỏi quản lý các nguồn thu ngân sách, Nhà nước ta đã có nhiều văn bản ban hành để xác lập về thuế như sau: - Thông tư 427-TTG ngày 18/12/1954 của Thủ tướng chính phủ qui định về thuế doanh nghiệp. - Điều lệ về thuế hàng hoá do Nghị quyết số 487 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành. - Điều lệ tạm thời do Nghị định số 661/TTg ngày 12/1/1956 của Thủ tướng Chính phủ ban hành qui định về thuế thổ trạch.
- Điều lệ số 542 ngày 26/5/1955 của Thủ tướng Chính phủ qui định về thuế kinh doanh doanh nghệ thuật. - Điều lệ thuế nông nghiệp số 715-TTG ngày 24/3/1956 của Thủ tướng Chính phủ áp dụng ở những nơi đã cải cách ruộng đất. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Điều lệ về thuế công thương nghiệp đối với các hợp tác xã, tổ chức hợp tác và hộ kinh doanh riêng lẻ ban hành kèm theo Quyết định số 200- NQ/TVQH ngày 18/1/1966 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Những văn bản pháp luật qui định về thuế thời đó đã xác định được các hành vi vi phạm thể lệ về thuế, coi là một trong các hành vi xâm phạm chính sách quản lý các hoạt động kinh doanh.
Trong các văn bản trên, ngoài việc đưa ra các qui định về thể lệ, các hành vi vi phạm cụ thể về thuế, đường lối xử lý đối với các vi phạm cũng đã được xác lập. Một số dạng hành vi liên quan đến trốn thuế được ghi nhận như: Khai man, không chịu nộp thế, lập chứng từ giả, bán hàng hoá không có chứng từ hợp lệ, lập sổ sách kế toán không đúng thực tế đều đã được quy định trong các văn bản pháp luật để xử lý về các hành vi trốn thuế. Về đường lối xử lý đối với người có hành vi trốn thuế, ngoài việc qui định các chế tài đa dạng như phạt tiền, tịch thu hàng hoá gian lận, đình chỉ hoạt động kinh doanh thì việc phân hoá trách nhiệm hình sự cũng đã bước đầu được chú ý. Cơ sở phân hoá trách nhiệm được xác định là số tiền trốn thuế và tính chất nghiêm trọng của hành vi trốn thuế.
Các hành vi vi phạm pháp luật về thuế thông thường chỉ bị xử phạt tiền; tịch thu một phần hoặc toàn bộ hàng hoá gian lận hay đình chỉ hoạt động. Ví dụ, khoản 3 Điều 15 Điều lệ thuế hàng hoá qui định “ nếu có hành động trốn thuế, lậu thuế như khai man khối lượng, giá cả, phẩm chất hàng hoá, tàng trữ vận chuyển và bán hàng không có chứng từ hợp lệ, ghi chép sổ sách không đúng thực tế thì có thể bị phạt từ một đến hai lần số thuế gian lậu, hoặc bị xử phạt theo cả hai hình thức nói trên”. Trường hợp tái phạm, trốn thuế có tổ chức sẽ bị truy tố ra Toà án. Theo qui định tại Điều 18 Điều lệ tạm thời ban hành kèm theo Nghị định số 661/TTg ngày 12/1/1956 của Thủ tướng Chính phủ ban hành về thuế 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thổ trạch thì “người nào cố tình dây dưa thuế, chống thuế, có thể bị truy tố trước toà án”.
Trong số các hình phạt trên, phạt tiền được áp dụng chủ yếu với mức phạt tiền từ một đến năm lần số thuế gian lận (Điều lệ hàng hoá, thuế thổ trạch, thuế sát sinh, thuế công thương nghiệp). Luật thuế doanh nghiệp qui định có thể áp dụng hình phạt tiền lên tới một đến mười lần số thuế định gian lận (Điều 12 Thông tư 427-TTg ngày 18/12/1954 của Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn về xử phạt các hành vi gian lận thuế). Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật thời kỳ này vẫn chưa có điều luật mang tính khái quát chung về tội trốn thuế, cũng như chưa có sự phân định rõ ràng trốn thuế với tính chất là một tội phạm và trốn thuế với tính chất vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực thuế. Ngày 15/3/1976 Chính phủ ban hành Sắc luật 03/76 qui định về tội phạm kinh tế.
Điều 6 Sắc luật 03 qui định: “Tội kinh tế là tội gây thiệt hại về kinh tế tài chánh cho nhà nước, cho hợp tác xã hoặc tập thể nhân dân, gây trở ngại cho việc khôi phục và phát triển sản xuất, cho ổn định và cải thiện đời sống của nhân dân, gồm các loại: - Sản xuất hàng giả cố ý lừa gạt người tiêu thụ. - Kinh doanh trái phép, cố ý trốn tránh qui định của nhà nước. - Làm bạc giả hoặc tiêu thụ bạc giả. - Mua bán gian lận, trốn thuế, lừa gạt nhà cầm quyền.
- Đầu cơ, tích trữ, tung tin thất thiệt, dìm giá, tăng giá phá rối thị trường. - Bán hàng nhà nước cấm. Phạm một trong các tội trên đây, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm và bị phạt tiền đến 50.000đ ngân hàng hoặc một trong hai hình phạt đó. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trường hợp nghiêm trọng, bị phạt tù đến 20 năm, tù chung thân hoặc bị xử tử hình và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
So với qui định của pháp luật thời kỳ trước, pháp luật thời kỳ này đã có sự tiến bộ rõ rệt. Bằng việc qui định tội trốn thuế là một trong các tội phạm kinh tế, pháp luật đã xác định tính nguy hiểm cho xã hội của tội trốn thuế, đồng thời phân định rõ ràng ranh giới giữa các hành vi trốn thuế bị xử phạt hành chính và hành vi trốn thuế bị xử lý hình sự. Sắc luật số 03/76 đã qui định chế tài đối với hành vi trốn thuế nói riêng, hành vi xâm phạm chế độ kinh tế nói chung ở mức độ nghiêm khắc. Hình phạt trong Sắc luật 03 qui định là phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm hoặc phạt tiền đến 50.000đ, trường hợp nghiêm trọng phạt tù 20 năm, chung thân hoặc tử hình.
Những qui định tại điều 6 Sắc luật 03/76 đã thực sự là cơ sở pháp lý cho việc xử lý hình sự đối với các hành vi xâm phạm chế độ kinh tế nói chung, hành vi trốn thuế nói riêng, góp phần vào công cuộc phòng, chống tội phạm trốn thuế. Phù hợp với diễn biến mới của tình hình kinh tế – xã hội, trên cơ sở các qui định của Hiến pháp 1980, năm 1982 Pháp lệnh trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép được ban hành. Tại Điều 6 Pháp lệnh này, hành vi trốn thuế được coi là một trong những hành vi khách quan trong tội kinh doanh trái phép: “Người nào kinh doanh không có giấy phép hoặc không đúng với nội dung được phép, trốn thuế, không niêm yết giá, nâng giá cao hơn giá niêm yết, không đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, sử dụng trái phép nhãn hiệu hàng hoá hoặc dùng thủ đoạn khác để lừa dối cơ quan Nhà nước và người tiêu dùng thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ ba tháng đến hai năm, hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm, và bị phạt tiền gấp ba lần trị giá hàng phạm pháp”. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, cùng với sự phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam, phạm vi xác định tội phạm trốn thuế ngày càng được cụ thể hoá rõ hơn.
Trong Pháp lệnh trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép năm 1982, hành vi trốn thuế được coi là một trong những hành vi khách quan của tội kinh doanh trái phép, nằm trong nhóm tội xâm phạm trật tự kinh tế. Hình phạt được qui định đối với tội kinh doanh trái phép (trong đó có hành vi trốn thuế) là cải tạo không giam giữ từ ba tháng đến hai năm, hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm, cùng với nó còn bị phạt tiền gấp ba lần trị giá hàng phạm pháp. Như vậy, hình phạt tiền là hình phạt bắt buộc đối với mọi đối tượng phạm vào tội phạm này. Ngoài hình phạt tiền, người phạm tội còn bị áp dụng một trong hai hình phạt là cải tạo không giam giữ và phạt tù.
Kỳ họp Quốc hội khoá VII năm 1985 đã thông qua Bộ luật hình sự đầu tiên của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là công cụ sắc bén bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Bộ luật hình sự 1985 ra đời trên cơ sở kế thừa các qui định của các văn bản pháp luật trước. Trong đó đã quy định cụ thể tội Trốn thuế tại Điều 169 như sau: “Người nào trốn thuế với số lượng lớn hoặc đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm”.
Trong cả ba lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự vào các năm 1989, 1992 và 1997, qui định về tội trốn thuế đều được sửa đổi bổ sung theo hướng phân hoá trách nhiệm hình sự và tăng nặng hình phạt. Theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1997, Điều 169 về tội Trốn thuế được qui định như sau: “1. Người nào trốn thuế với số lượng lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm” 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phạm tội trốn thuế với số lượng lớn, rất lớn hoặc đã bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về tội trốn thuế hoặc về một trong các tội qui định tại điều 185b, 185c, 185d, 185đ, 97, 165, 166, 167, 168, 173 và 183 hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm.” Một trong những dấu hiệu xác định tội trốn thuế là trốn thuế với số lượng lớn.