Chương 1 Những vấn đề chung về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng 1. Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong Luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm tội phạm về chức vụ Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, tội phạm là một hiện tượng xã hội có nguyên nhân phát sinh do những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, gắn liền với sự phát triển của xã hội. Tại Điều 8 BLHS năm 1999 thì khái niệm về tội phạm được quy định như sau: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được qui định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [42].
Là một loại tội phạm nên về bản chất các tội phạm về chức vụ nói chung và tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng nói riêng thống nhất với bản chất được nêu trong khái niệm chung về tội phạm. Tội phạm về chức vụ theo pháp luật Việt Nam là những hành vi vi phạm pháp luật do những người có chức vụ, quyền hạn thực hiện trong khi đang thực hiện nhiệm vụ của mình hoặc người khác thực hiện liên quan đến 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com công vụ một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm chế độ quy định về hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của các tổ chức, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Theo quy định của BLHS năm 1999, các tội phạm về chức vụ quy định tại Chương XXI và được chia ra hai mục là: Mục A - các tội phạm về tham nhũng và Mục B - các tội phạm khác về chức vụ. Trong đó, tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trong nằm trong Mục B của chương này.
Do vậy, trước khi tìm hiểu khái niệm và ý nghĩa của việc ghi nhận tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong BLHS Việt Nam, cần nghiên cứu về các đặc điểm chung các tội phạm về chức vụ. Từ khi thành lập nước cho đến trước khi BLHS đầu tiên được chính thức thông qua, khái niệm tội phạm về chức vụ chưa được qui định cụ thể trong các văn bản pháp luật hình sự. Những hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn cụ thể để làm những việc sai trái đều bị xử lý bằng các biện pháp kỷ luật của Đảng, kỷ luật của Nhà nước hay bằng các biện pháp hành chính. Chỉ sau khi BLHS năm 1985 ra đời, khái niệm tội phạm về chức vụ mới được qui định tại Điều 219 và hiện nay được qui định tại Điều 277 BLHS năm 1999; cụ thể là: Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện trong khi thực hiện công vụ.
Người có chức vụ quyền hạn nói trên đây là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ [42]. Tuy nhiên, theo khái niệm tội phạm về chức vụ này thì có những tội không quy định tại chương các tội phạm về chức vụ nhưng lại là những tội do người có chức vụ quyền hạn thực hiện, ví dụ như tội cố ý làm trái các quy 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com định Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai. Mặt khác, có những tội được qui định tại chương các tội phạm về chức vụ nhưng lại do người không có chức vụ quyền hạn thực hiện như tội đưa hối lộ, tội môi giới hối lộ, tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi. Do vậy, có thể thấy khái niệm tội phạm về chức vụ được qui định tại Điều 227 BLHS trong mục Các tội phạm về chức vụ chưa thật sự đầy đủ.
Đặc điểm chung của cỏc tội phạm về chức vụ là những hành vi (hành động hoặc không hành động) của người có chức vụ quyền hạn xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức. Mọi hành vi xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức đều có thể gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đó có thể là thiệt hại về vật chất hoặc thiệt hại phi vật chất. Về hậu quả được chia thành hai nhóm: nhóm tội bắt buộc phải gây hậu quả nghiêm trọng và nhóm tội không cần dấu hiệu hậu quả.
Về chủ thể, hầu hết các tội phạm trong nhóm tội phạm này có chủ thể đặc biệt là người có chức vụ quyền hạn, một số tội phạm có chủ thể chung (vừa là người có chức vụ quyền hạn, vừa có thể là người khác), có một tội chủ thể không phải là người có chức vụ quyền hạn. Về lỗi, hầu hết tội về chức vụ được thực hiện với lỗi cố ý (tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ v.), chỉ có ba tội được thực hiện với lỗi vô ý (tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, tội vô ý làm lộ bí mật công tác và tội làm mất tài liệu bí mật công tác). Về động cơ phạm tội, chỉ có tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ và tội giả mạo trong công tác là những tội phạm đòi hỏi dấu hiệu động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác là dấu hiệu bắt buộc về mặt chủ quan của tội phạm. Về mục đích, chỉ có một số tội quy định mục đích là dấu hiệu bắt buộc về mặt chủ quan của tội phạm 1.
Khái niệm tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng được qui định trong chương các tội phạm chức vụ, nó được tách ra với phần các tội phạm về tham nhũng để phân biệt với các tội phạm về chức vụ có liên quan đến tham nhũng, và cũng để phân biệt với các tội phạm thiếu trách nhiệm khác liên quan đến chức vụ, quyền hạn đặc biệt (như được giao quản lý vũ khí, vật liệu nổ, được giao quản lý tài sản của Nhà nước, được giao quản lý người bị giam, giữ. Bản chất của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng không khác với bản chất chung của tội phạm. Điểm đặc trưng làm cơ sở để xây dựng khái niệm tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng gồm ba yếu tố: 1) Do người có chức vụ quyền hạn thực hiện; 2) Do thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao; 3) Gây hậu quả nghiêm trọng. Trước hết, người thực hiện tội phạm phải là người có chức vụ, quyền hạn.
Chỉ những người được giao nhiệm vụ mà không thực đúng nhiệm vụ được giao mới là chủ thể của tội phạm. Theo Từ điển Tiếng Việt "Chức" có nghĩa là "Danh vị thể hiện cấp bậc, quyền hạn và trách nhiệm của một người trong hệ thống tổ chức của Nhà nước hay đoàn thể" và "chức vụ" được hiểu là "nhiệm vụ tương ứng với chức" [31, tr. Bản thân một người có chức vụ là người phải có trách nhiệm với nhiệm vụ được giao tương ứng với chức vụ của mình. Thứ hai, người có chức vụ này đã không làm hoặc làm không đúng nhiệm vụ của mình.
Cũng theo Từ điển Tiếng Việt thì "Trách nhiệm" là "phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải đảm bảo làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả" [31, tr. Như vậy, "Thiếu trách nhiệm" có thể hiểu là người có chức vụ đã không làm, làm không đúng, làm dưới mức yêu cầu công việc tương ứng với nhiệm vụ được giao. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ ba, là hậu quả của hành vi thiếu trách nhiệm. Người có chức vụ quyền hạn đã không làm đúng nhiệm vụ được giao nếu việc không làm, hoặc làm không đúng này gây ra hậu quả nghiêm trọng.
Nếu không có hậu quả hoặc hậu quả không liên quan đến hành vi của người có chức vụ thì không phải là tội phạm này. Dưới góc độ khoa học, hiện nay chỉ tồn tại một số quan điểm khoa học định nghĩa tội phạm này trong sách báo pháp lý, nhưng về cơ bản đều thống nhất nội hàm khái niệm này. Tác giả Đinh Văn Quế đưa ra định nghĩa: "Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao gây hậu quả nghiêm trọng" [35, tr. Thạc sĩ luật Vũ Mạnh Thông và thạc sĩ luật Đoàn Tấn Minh có quan điểm: "Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, được hiểu là hành vi của người có chức vụ quyền hạn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao (dẫn đến) gây hậu quả nghiêm trọng" [30, tr.
Tóm lại, trên cơ sở khái niệm chung về tội phạm và các đặc điểm vừa phân tích có thể đưa ra khái niệm tội phạm này như sau: Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng là hành vi nguy hiểm cho xã hội được qui định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự do bổ nhiệm, bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không được hưởng lương được giao một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thi hành công vụ đã không thực hiện hay thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức gây hậu quả nghiêm trọng. Từ khái niệm nêu trên, có thể nhận thấy tội phạm này có một số đặc điểm cơ bản như sau: 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Một là, tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng là hành vi nguy hiểm cho xã hội được qui định tại BLHS, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức.