Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm của tội sản xuất, buôn bán hàng giả Tội sản xuất, buôn bán hàng giả đƣợc quy định tại Điều 156, Chƣơng XVI (các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế), Phần các tội phạm, BLHS Việt Nam. Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của tội phạm này cần làm rõ hàng loạt thuật ngữ cơ bản.
Trƣớc tiên, cần hiểu thế nào là sản xuất, thế nào là buôn bán và thế nào là hàng giả; tiếp theo, định lƣợng của hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả đến mức nào thì truy cứu trách nhiệm hình sự; và cuối cùng, đánh giá sự nguy hiểm của tội phạm này đối với nhà nƣớc và xã hội. Thông thƣờng, hàng giả đƣợc hiểu là không phải hàng thật. Vậy thế nào là hàng thật. Theo khoản 3 Điều 3 Luật chất lƣợng sản phẩm hàng hóa thì, "sản phẩm, hàng hoá không có khả năng gây mất an toàn là sản phẩm, hàng hoá trong điều kiện vận chuyển, lƣu giữ, bảo quản, sử dụng hợp lý và đúng mục đích, không gây hại cho ngƣời, động vật, thực vật, tài sản, môi trƣờng" [29].
Tuy nhiên, sản phẩm hàng hóa đƣợc đƣa vào thị trƣờng, tiêu dùng thông qua trao đổi, mua bán, tiếp thị lại phải tuân thủ những quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ, có nghĩa phải tuân thủ những quy định của sở hữu công nghiệp liên quan đến sản phẩm hàng hóa. Mỗi sản phẩm hàng hóa đƣợc đƣa ra thị trƣờng để trao đổi, mua bán phải có nhãn hiệu, tên thƣơng mại, chỉ dẫn địa lý, nguồn gốc xuất xứ hàng hóa, hay nói cách khác phải đăng ký hàng hóa tại cơ quan có thẩm quyền để xác định chất lƣợng hàng hóa. Nhƣ vậy, hiểu một cách thông thƣờng, sản phẩm hàng hóa đƣợc coi là giả khi không bảo đảm chất lƣợng, giả về nhãn hiệu hàng hóa đƣa ra thị trƣờng tiêu thụ nhằm lừa dối ngƣời tiêu dùng hoặc làm cho ngƣời tiêu dùng tƣởng rằng 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đó là hàng thật, hàng đảm bảo chất lƣợng không gây hại cho ngƣời, động vật, thực vật, tài sản, môi trƣờng khi sử dụng nó. Tuy nhiên, để xác định nhƣ thế nào là hàng giả cần dựa vào những quy định của văn bản pháp luật.
Theo quy định tại khoản 8 Điều 3, Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thƣơng mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm, bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng, "Hàng giả" có một trong các dấu hiệu sau đây: - Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; - Hàng hóa có hàm lƣợng định lƣợng chất chính hoặc trong các chất dinh dƣỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lƣợng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; - Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho ngƣời, vật nuôi không có dƣợc chất; có dƣợc chất nhƣng không đúng với hàm lƣợng đã đăng ký; không đủ loại dƣợc chất đã đăng ký; có dƣợc chất khác với dƣợc chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; - Thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; hàm lƣợng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lƣợng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng; không đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; - Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thƣơng nhân, địa chỉ của thƣơng nhân khác; giả mạo tên thƣơng mại hoặc tên thƣơng phẩm hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lƣu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của thƣơng nhân khác; 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa; - Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (Hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ bao gồm hàng hoá giả mạo nhãn hiệu và giả mạo chỉ dẫn địa lý (sau đây gọi là hàng hoá giả mạo nhãn hiệu). Hàng hoá giả mạo nhãn hiệu là hàng hoá, bao bì của hàng hoá có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang đƣợc bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không đƣợc phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý); - Tem, nhãn, bao bì giả. "Tem, nhãn, bao bì giả" gồm đề can, nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa, các loại tem chất lƣợng, phiếu bảo hành, niêm màng co hàng hóa hoặc vật phẩm khác của cá nhân, tổ chức kinh doanh có chỉ dẫn giả mạo tên và địa chỉ của thƣơng nhân khác; giả mạo tên thƣơng mại, tên thƣơng phẩm hàng hóa, mã số đăng ký lƣu hành, mã vạch hoặc bao bì hàng hóa của thƣơng nhân khác. Nhƣ vậy, để xác định là hàng giả khi hàng đó thỏa mãn một tong những dấu hiệu nêu trên.
Cũng theo quy định tại Điều 3, Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ, hành vi "Sản xuất" là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chế tạo, chế bản, in ấn, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra hàng hóa” [7]. Từ quy định này, có thể hiểu "sản xuất hàng giả" là thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chế tạo, chế bản, in ấn, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra hàng hóa có một trong các tình tiết đƣợc quy định tại khoản 8 Điều 3, Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ. Theo quy định tại Điều 3, Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ, hành vi "Buôn bán" là việc thực hiện một, một số 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoặc tất cả các hoạt động chào hàng, bày bán, lƣu giữ, bảo quản, vận chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu và hoạt động khác đƣa hàng hóa vào lƣu thông" [7]. Cho nên, có thể hiểu buôn bán hàng giả là thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chào hàng, bày bán, lƣu giữ, bảo quản, vận chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu và hoạt động khác đƣa hàng hóa có một trong các tình tiết đƣợc quy định tại khoản 8 Điều 3, Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ, vào lƣu thông.
Qua đó, chúng ta có thể thấy sản xuất hàng giả và buôn bán hàng giả là hai hành vi vi phạm độc lập. Đây cũng là hai tội phạm độc lập đƣợc quy định tại Điều 156 BLHS năm 1999: Tội sản xuất hàng giả và tội buôn bán hàng giả. Điều đó có nghĩa là chỉ cần thực hiện hành vi sản xuất hàng giả hoặc buôn bán hàng giả với đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm này thì ngƣời có hành vi này đã bị coi là phạm tội mà không cần phải thực hiện hành vi còn lại. Điểm khác biệt của hai tội này nằm ở mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi phạm tội đó là hành vi sản xuất hàng giả và hành vi buôn bán hàng giả.
Nếu khái niệm cho chúng ta nhận biết tổng thể đối tƣợng nghiên cứu một cách chung nhất, thì đặc điểm giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về đối tƣợng nghiên cứu, minh họa cho khái niệm, làm cho khái niệm trở lên bớt khô cứng và sinh động hơn. Để nhận thức sâu và áp dụng chính xác tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định tại Điều 156 BLHS vào thực tiễn cuộc sống chúng ta cùng nghiên cứu về đặc điểm của tội phạm này. Đặc điểm của tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156 Bộ luật hình sự Theo Luật hình sự Việt Nam, hành vi bị coi là tội phạm đƣợc phân biệt với những hành vi không phải là tội phạm qua bốn dấu hiệu: tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự và tính phải chịu hình phạt. Đó là những đặc điểm của tội phạm nói chung mà tội sản xuất, buôn bán hàng giả không phải là ngoại lệ.
Mỗi trƣờng hợp phạm tội cụ thể của một loại 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tội khác nhau về nội dung biểu hiện của tội phạm, không trƣờng hợp nào giống hoàn toàn trƣờng hợp nào. Tuy vậy, tất cả những trƣờng hợp phạm tội của một loại tội phạm đều có những nội dung biểu hiện đặc điểm, phản ánh tính chất đặc trƣng của tội phạm đó mà không thể nhầm lẫn sang tội phạm khác. Nghiên cứu về tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156 BLHS cho thấy, tội danh này có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, tội sản xuất, buôn bán hàng giả là tội danh có tính chất bao quát, chung đối với hành vi sản xuất buôn bán hàng giả. Bởi vì, trong BLHS còn có nhiều điều luật khác quy định tội sản xuất, buôn bán hàng giả có tính chất đặc thù.
Ví dụ, Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh đƣợc quy định tại Điều 157 BLHS; Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi đƣợc quy định tại Điều 158 BLHS; Tội làm tem giả, vé giả, tội buôn bán tem giả, vé giả đƣợc quy định tại Điều 164 BLHS; Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đƣợc quy định tại Điều 171 BLHS.