Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ 1. Khái niệm và sự cần thiết quy định tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm về tội sản xuất, buôn bán hàng giả Theo Từ điển Kinh tế, Nhà xuất bản sự thật (1979): “Hàng hóa là sản phẩm dùng để thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào quá trình tiêu dùng thông qua trao đổi”. Theo Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản văn hóa (1998): “Giả có nghĩa không phải là thật mà được làm với bề ngoài giống như cái thật để người khác tưởng là thật”.
Dựa trên hai khái niệm trên, có quan điểm cho rằng: “Hàng giả là hàng làm bắt chước theo mẫu mã của loại hàng thật nào đó đang được lưu hành, nhưng không bảo đảm đủ tiêu chuẩn về phẩm chất hoặc không có giá trị sử dụng, hoặc không có giá trị sử dụng đầy đủ, nhất là đối với mặt hàng thông dụng và có nhu cầu lớn. Về hình thức, kĩ thuật làm hàng giả ngày càng tinh vi, các loại hàng giả rất giống hàng thật. Đôi khi, người làm hàng giả cũng sử dụng một phần nguyên liệu, các loại tem nhãn, bao bì của hàng thật với mục đích lừa gạt người mua”. Theo quan điểm cá nhân, tác giả cho rằng khái niệm này thực ra chỉ là giải thích về mặt ngôn ngữ, mà chưa phải là khái niệm mang tính pháp lý, thể hiện bản chất của hàng giả.
Dưới góc độ pháp lý, kể từ khi đất nước được thống nhất, thuật ngữ “hàng giả” lần đầu tiên được sử dụng trong Pháp lệnh Trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu làm hàng giả, kinh doanh trái phép năm 1982 [12]. Mặc dù vậy, khái niệm hàng giả vẫn chưa được thể hiện rõ ràng. BLHS Việt Nam đầu tiên ra 10 đời năm 1985 quy định về tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả tại Điều 167, thuộc nhóm tội về kinh tế. Mặc dù, BLHS năm 1985 có quy định chi tiết hơn Pháp lệnh 07 năm 1982 tuy nhiên các điều luật trong BLHS năm 1985 vẫn chưa đưa ra được định nghĩa về hàng giả.
Nghị định số 140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về kiểm tra, xử lý hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả được xem là văn bản pháp luật đầu tiên đưa ra khái niệm hàng giả. Theo nội dung tại Điều 3 của Nghị định quy định: “Hàng giả theo Nghị định này, là những sản phẩm, hàng hoá được sản xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống như những sản phẩm, hàng hoá được Nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường; hoặc những sản phẩm, hàng hoá không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó”. Căn cứ theo Điều 4 của Nghị định số 140/HĐBT nêu cụ thể 6 trường hợp được coi là hàng giả, bao gồm: Một là, sản phẩm có nhãn giả mạo; Hai là, sản phẩm, hàng hóa mang nhãn hiệu hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hàng hóa đã được đăng ký, bảo hộ; Ba là, sản phẩm, hàng hóa mang nhãn không đúng với nhãn sản phẩm đã đăng ký với cơ quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng; Bốn là, sản phẩm hàng hóa ghi dấu phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam khi chưa được cấp giấy chứng nhận và dấu phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam; Năm là, sản phẩm, hàng hóa đã đăng ký hoặc chưa đăng ký chất lượng với cơ quan Tiêu chuẩn đo lường chất lượng mà có mức chất lượng thấp hơn mức tối thiểu cho phép; Sáu là, sản phẩm, hàng hóa có giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất, tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó. Tại Điều 3 Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã thể hiện khái niệm “hàng giả” bằng hình thức liệt kê như sau: 11 “Hàng giả gồm: a) Hàng hóa có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng hoặc có giá trị sử dụng, công dụng không đúng so với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; b) Hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản hoặc định lượng chất chính tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; c) Thuốc giả theo quy định tại khoản 33 Điều 2 của Luật Dược năm 2016 và dược liệu giả theo quy định tại khoản 34 Điều 2 của Luật Dược năm 2016; d) Thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; không có đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; có ít nhất một trong các hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng; đ) Hàng hóa có nhãn hàng hóa hoặc bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo tên, địa chỉ tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu, phân phối hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã số công bố, mã số mã vạch của hàng hóa hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của tổ chức, cá nhân khác; giả mạo về nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa hoặc nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa; e) Tem, nhãn, bao bì hàng hóa giả”.
Đối chiếu với một vài quan điểm pháp lý về khái niệm hàng giả trên thế giới. “Hàng giả” - theo Từ điển Black's Law Dictionary, có nghĩa là “làm giả, sao chép hoặc bắt chước (cái gì đó) mà không có quyền làm như vậy và với mục đích lừa gạt hay lừa đảo” [24]. Hàng giả là những sản phẩm có ý nghĩa 12 là “không phải là cái gì đó”, vì mục đích lừa người tiêu dùng mua hoặc sử dụng chúng. Hay về khái niệm hàng giả của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có một vài nét khác với pháp luật của Việt Nam về vấn đề xác định ranh giới giữa hàng giả và hàng kém chất lượng.
Trong BLHS năm 1997 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tại chương III về “Tội phá hoại trật tự kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa”, mục 3 có quy định “Tội sản xuất, tiêu thụ hàng giả”. Hàng giả được nói tới ở đây là hàng giả không đúng tiêu chuẩn, hàng xấu, không đủ tiêu chuẩn vệ sinh, có độc tố độc hại, không đủ tiêu chuẩn quốc gia, chuyên môn về đảm bảo an toàn, hàng quá hạn sử dụng. Như vậy, khái niệm hàng giả rộng hơn, bao gồm cả hàng kém chất lượng, chứ không phân biệt thành các đối tượng khác nhau, dẫn đến cách xử lý khác nhau như pháp luật Việt Nam. Nói tóm lại, theo quan điểm của tác giả để đưa ra được khái niệm tội sản xuất, buôn bán hàng giả cần dựa trên cách hiểu về: Một là, khái niệm hàng giả Sản phẩm, hàng hóa được sản xuất ra trái pháp luật với mục đích lừa dối người tiêu dùng, thu lợi bất chính được coi là hàng giả.
Hai là, khái niệm sản xuất và buôn bán “Sản xuất” là việc một chủ thể thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chế bản, chế tạo, gia công, in ấn, đặt hàng, sơ chế, chế biến, tái chế, chiết xuất, san chia, sang chiết, lắp ráp, nạp, pha trộn, đóng gói và hoạt động khác làm ra hàng hóa. “Buôn bán” là việc một chủ thể thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động bày bán, chào hàng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển, bán lẻ, Hàng giả trực tiếp gây thiệt hại bán buôn, xuất khẩu, nhập khẩu và hoạt động khác đưa hàng hóa vào lưu thông. Như vậy “việc một người thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chế tạo, chế bản, in, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, 13 tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra các loại sản phẩm, hàng hóa được sản xuất ra trái pháp luật, nhằm mục đích lừa dối người tiêu dùng, thu lợi bất chính hoặc hoạt động chào hàng, bày bán, lưu giữ, bảo quản vận chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu và hoạt động khác đưa hàng hóa nêu trên vào lưu thông thì được coi là tội sản xuất, buôn bán hàng giả”. Từ khái niệm nêu trên có thể thấy tội sản xuất, buôn bán hàng giả đặc điểm cơ bản sau: Một là, tội sản xuất, buôn bán hàng giả là tội danh có tính chất bao quát, chung đối với hành vi sản xuất buôn bán hàng giả.
Bởi vì, trong BLHS còn có nhiều điều luật khác quy định tội sản xuất, buôn bán hàng giả có tính chất đặc thù. Ví dụ, Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi. Như vậy, người nào có hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả không phải là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; không phải là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi; không phải là tem giả, vé giả; không phải là có kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi, xuất xứ hàng hoá hoặc các đối tượng sở hữu công nghiệp khác đang được bảo hộ tại Việt Nam thì bị truy cứu trách nhiệm hình theo Điều 192 BLHS. Hai là, sản xuất hàng giả và buôn bán hàng giả là một việc làm phức tạp, nhiều công đoạn từ sản xuất đến khâu tiêu thụ.
Hai khâu sản xuất và buôn bán hàng giả luôn quan hệ hữu cơ với nhau. Không có thị trường tiêu thụ hàng giả thì sản xuất hàng giả để làm gì và ngược lại nếu không có người sản xuất hàng giả thì người kinh doanh lấy đâu ra hàng giả mà kinh doanh hàng giả. Vì 14 vậy, giữa người sản xuất và người kinh doanh buộc phải tổ chức thành một đường dây sản xuất và buôn bán hàng giả.