Tội mua bán trái phép chất ma túy trong luật hình sự việt nam trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh nghệ an luận văn thạc sỹ luật

Chuyên khảo luật học phân tích Tội mua bán trái phép chất ma túy trong luật hình sự việt nam trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2020

94
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

1. CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ TỘI PHẠM MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. NHẬN THỨC LÝ LUẬN VỀ TỘI PHẠM MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

1.1.1. Khái niệm về ma túy

1.1.2. Khái niệm về tội phạm mua bán trái phép chất ma túy trong Bộ luật hình sự Việt Nam

1.1.3. Lịch sử hình thành tội phạm mua bán trái phép chất ma túy trong Bộ luật hình sự

1.2. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI PHẠM MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.2.1. Khách thể của tội phạm mua bán trái phép chất ma túy

1.2.2. Mặt khách quan của tội phạm mua bán trái phép chất ma túy

1.2.3. Chủ thể của tội phạm mua bán trái phép chất ma túy

1.2.4. Mặt chủ quan của tội phạm mua bán trái phép chất ma túy

1.2.5. Hình phạt đối với tội phạm mua bán trái phép chất ma túy

1.3. XỬ LÝ TỘI PHẠM MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ

1.3.1. Chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân trong xử lý tội phạm

1.3.2. Tòa án nhân dân trong việc xét xử tội phạm mua bán trái phép chất ma túy

1.4. Kết luận

2. CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI PHẠM MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN (GIAI ĐOẠN 2018-2020)

2.1. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ TỘI PHẠM MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

2.1.2. Điều kiện kinh tế và xã hội

2.1.3. Tình hình tội phạm mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2020

2.2. THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI PHẠM MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN, GIAI ĐOẠN 2018-2020

2.2.1. Thực tiễn hoạt động thụ lý của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đối với các vụ án mua bán trái phép chất ma túy

2.2.2. Thực tiễn xét xử các vụ án mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2020

2.3. NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ

2.3.1. Hạn chế, thiếu sót

2.3.2. Nguyên nhân hạn chế, thiếu sót

2.4. Kết luận

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ TỘI PHẠM MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN

3.1. Củng cố tổ chức bộ máy tòa án, nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng

3.2. Đổi mới, nâng cao chất lượng các phiên tòa xét xử các vụ án mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An theo tinh thần cải cách tư pháp

3.3. Tăng cường quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tố tụng

3.4. Bảo đảm cơ sở vật chất, nguồn lực cho hoạt động xét xử

3.5. KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ TỘI PHẠM MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN

3.5.1. Bổ sung qui định pháp luật về khái niệm tội phạm ma túy

3.5.2. Hoàn thiện qui định về danh mục các chất ma túy, giám định hàm lượng, tính khối lượng các chất ma túy

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tội mua bán ma túy tại Nghệ An

Tình hình tội phạm mua bán ma túy tại Nghệ An đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong những năm gần đây. Với vị trí địa lý thuận lợi, Nghệ An trở thành điểm nóng cho các hoạt động buôn bán ma túy. Theo thống kê, số vụ án liên quan đến tội phạm này ngày càng gia tăng, với nhiều phương thức hoạt động tinh vi và liều lĩnh. Việc nhận thức rõ về tình hình này là rất cần thiết để có những biện pháp phòng ngừa và xử lý hiệu quả.

1.1. Tình hình tội phạm ma túy tại Nghệ An

Từ năm 2018 đến 2020, Nghệ An đã ghi nhận hàng trăm vụ án liên quan đến tội mua bán ma túy. Các đối tượng phạm tội không chỉ là người địa phương mà còn có sự tham gia của các băng nhóm từ nước ngoài. Điều này cho thấy tính chất phức tạp và nguy hiểm của tội phạm ma túy tại đây.

1.2. Nguyên nhân gia tăng tội phạm ma túy

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của tội phạm mua bán ma túy tại Nghệ An. Trong đó, điều kiện kinh tế khó khăn, sự thiếu hụt thông tin và giáo dục về ma túy là những yếu tố chính. Ngoài ra, sự phát triển của các đường dây buôn bán ma túy xuyên quốc gia cũng góp phần làm tình hình trở nên phức tạp hơn.

II. Thách thức trong việc xử lý tội phạm mua bán ma túy

Việc xử lý tội phạm mua bán ma túy tại Nghệ An gặp nhiều thách thức. Các cơ quan chức năng phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc thu thập chứng cứ và xác định tội danh. Hơn nữa, sự thiếu hụt về nguồn lực và trang thiết bị cũng làm giảm hiệu quả của công tác đấu tranh chống tội phạm này.

2.1. Khó khăn trong việc thu thập chứng cứ

Một trong những thách thức lớn nhất trong việc xử lý tội phạm mua bán ma túy là việc thu thập chứng cứ. Các đối tượng thường sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi để che giấu hoạt động của mình, khiến cho việc điều tra trở nên khó khăn hơn.

2.2. Thiếu hụt nguồn lực và trang thiết bị

Nhiều cơ quan chức năng tại Nghệ An vẫn còn thiếu hụt về nguồn lực và trang thiết bị cần thiết để thực hiện công tác đấu tranh chống tội phạm ma túy. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của các chiến dịch truy quét tội phạm.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý tội phạm ma túy

Để nâng cao hiệu quả trong việc xử lý tội phạm mua bán ma túy, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Các cơ quan chức năng cần tăng cường phối hợp, nâng cao năng lực chuyên môn và cải thiện cơ sở vật chất.

3.1. Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chức năng

Việc tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chức năng là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh chống tội phạm ma túy. Các cơ quan như công an, viện kiểm sát và tòa án cần làm việc chặt chẽ với nhau để đảm bảo việc xử lý tội phạm được thực hiện một cách hiệu quả.

3.2. Nâng cao năng lực chuyên môn của cán bộ

Cần tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ làm công tác phòng chống tội phạm ma túy. Việc nâng cao năng lực chuyên môn sẽ giúp cán bộ có đủ kiến thức và kỹ năng để xử lý các vụ án phức tạp.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Các nghiên cứu về tội phạm mua bán ma túy tại Nghệ An đã chỉ ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa và xử lý hiệu quả sẽ giúp giảm thiểu tình trạng tội phạm này trong tương lai.

4.1. Kết quả từ các nghiên cứu thực tiễn

Nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa và xử lý tội phạm mua bán ma túy đã mang lại những kết quả tích cực. Số vụ án giảm dần và ý thức của người dân về tác hại của ma túy cũng được nâng cao.

4.2. Đề xuất các biện pháp cải thiện

Cần tiếp tục nghiên cứu và đề xuất các biện pháp cải thiện trong công tác phòng chống tội phạm ma túy. Việc này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả xử lý mà còn góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

V. Kết luận và tương lai của tội phạm ma túy tại Nghệ An

Tình hình tội phạm mua bán ma túy tại Nghệ An vẫn còn nhiều thách thức. Tuy nhiên, với sự quyết tâm của các cơ quan chức năng và sự hỗ trợ của cộng đồng, hy vọng rằng tình hình sẽ được cải thiện trong tương lai.

5.1. Tương lai của công tác phòng chống tội phạm ma túy

Công tác phòng chống tội phạm ma túy tại Nghệ An cần được tiếp tục đẩy mạnh. Các biện pháp phòng ngừa và xử lý cần được cải thiện để đáp ứng kịp thời với tình hình thực tế.

5.2. Vai trò của cộng đồng trong việc phòng chống ma túy

Cộng đồng cần đóng vai trò tích cực trong việc phòng chống tội phạm ma túy. Sự tham gia của người dân sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của các chương trình phòng ngừa và giáo dục về ma túy.

16/08/2025
Tội mua bán trái phép chất ma túy trong luật hình sự việt nam trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh nghệ an luận văn thạc sỹ luật

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 “Các tội xâm phạm an ninh quốc gia Điều 96a quy định 3 khung hình phạt, hình phạt nghiêm khắc nhất áp dụng trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng là tử hình. Tháng 04/1992, Quốc hội thông qua Hiến pháp. Tại Điều 61 Hiến pháp 1992 đã quy định: “Nghiêm cẩm sản xuất, vận chuyên, buôn bản, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma tủy khác. Nhà nước quy định che độ cai nghiên bắt buộc và chữa các bệnh xã hội nguy hiểm'" [17].

Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động lập pháp và áp dụng pháp luật đổi với tội phạm về ma túy. Ngày 05/12/1992, Thông tư liên ngành số 07/TTLN về hướng dẫn áp dụng Điều 96a và Điều 203 BLHS năm 1985 nhằm cụ thể hoá Điều 61 Hiển 15 pháp năm 1992 được ban hành. Lân đâu tiên các cơ quan có thâm quyên sử dụng định lượng thuốc phiện và các chất ma túy khác làm căn cứ để xác định ranh giới giữa xử lý hình sự và xử lý hành chính, cũng như xác định trách nhiệm hình sự theo các khoản của Điều 96a. Các hành vi sản xuất, vận chuyển, tàng trữ trái phép thuốc phiện từ 100 gam trở lên và hành vi mua bán trái phép thuốc phiện với bất kỳ số lượng nào đều bị coi là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì dù là lần đầu và dưới bất cứ hình thức nào đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 203 BLHS năm 1985. Cùng với thủ đoạn ngày càng tinh vi, manh động của tội phạm ma tuý; TANDTC, VKSNDTC, Bộ Nội vụ sau khi trao đổi ý kiến với Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 05/TTLN ngày 31/08/1996 và Thông tư số 09/TTLN ngày 10/10/1996 hướng dẫn áp dụng Điều 96a và Điều 203 BLHS năm 1985 với các yêu cầu đặt ra trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống ma túy đặt ra như: + Xác định bổ sung các chất ma túy thường gặp; + Các trường hợp cần giám định để xác định chất ma túy; + Giải thích từ ngữ (đưa ra khái niệm) đối với các hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng chất ma túy; + Xác định đường lối xử lý cũng như trách nhiệm hình sự của người quản lý thuốc gây nghiện mà cố ý làm trái quy chế quản lý thuốc; + Quy định trách nhiệm hình sự trong các trường họp chiếm đoạt chất ma túy; + Quy định số lượng chất ma túy làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự theo các khoản của Điều 96a BLHS và xử lý bằng biện pháp hành chính; + Ngày 10/05/1997, Quốc hội Khoá IX đã thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1985, trong đó quy định một chương riêng (Chương VI1A) "Các tội phạm về ma tuý”. Chương này gồm 14 điều (từ Điều 16 185a đên Điêu 185o), trong đó có 13 điêu quy định các tội phạm vê ma tuý cụ thể (từ Điều 185a đến Điều 185n) và một số điều quy định hình phạt bổ sung (Điều 185o). So với trước đây, Luật Sửa đổi, bổ sung BLHS đã quy định 9 tội danh mới về ma túy, tách các tội phạm quy định tại Điều 96a BLHS năm 1985 thành 4 tội danh độc lập quy định tại các Điều 185a, 185b, 185c, 185đ.

nhằm phân hoá mức độ nguy hiểm và xác định trách nhiệm hình sự phù hợp. Thông tư liên ngành số 01/1998/TTLN ngày 02/01/1998 hướng dẫn áp dụng một số điều của BLHS năm 1985 (sửa đổi) được ban hành thay thế cho thông tư liên ngành số 09/TTLN. Thông tư đã giải thích, hướng dẫn tương đối đầy đủ về các tội sản xuất, buôn bán, vận chuyển, tàng trừ trái phép chất ma túy và một số tội phạm khác của Chương VIIA. Như vậy, BLHS năm 1985 trong hơn 10 năm thi hành đã có 04 lần sửa đổi, bổ sung; điều này giúp các quy định cụ thể về tội phạm ma túy trở nên ngày một hoàn thiện.

Tuy nhiên, giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế theo cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế mới - cơ chế thị trường định hướng XHCN giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở cửa hợp tác rộng rãi với các nước trong khu vực và trên thế giới nên BLHS năm 1985 đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, không còn phù hợp với tình hình mới. Trên tinh thần đó, BLHS năm 1999 được ban hành thay thế BLHS năm 1985. Các tội phạm về ma túy được hệ thống lại và quy định tại Chương XVIII gồm 10 điều (từ Điều 192 đến Điều 201). Với các thay đổi chính: Một là, nhập 4 tội quy định tại các điều Điều 185c (tội tàng trữ trái phép chất ma tuý); Điều 185d (tội vận chuyển trái phép chất ma tuý); Điều 185đ (tội mua bán trái phép chất ma tuý) và Điều 185e (Tội chiếm đoạt chất ma tuý) thành một tội danh mới quy định tại Điều 194 BLHS năm 1999 (Thực chất đây là điều luật quy định tội phạm ghép).

Do vậy từ 13 điều quy định tội phạm về ma túy trong BLHS năm 1985, nay chỉ còn 10 điều luật quy định các tội phạm này trong BLHS năm 1999. 17 Hai là, bỏ hình phạt từ hình đôi với một tội; điêu chỉnh mức xử phạt tù của từng khung hình phạt cho phù hợp với các loại tội phạm được phân loại ở phần chung của BLHS; hình phạt bổ sung không còn quy định ở một điều luật riêng mà đưa vào từng điều luật quy định các tội phạm. Ba là, BLHS đã sửa đổi, bổ sung một số tình tiết định khung hình phạt như: Bỏ tình tiết định khung “có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 điều này” và tình tiết “có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 điều này” ở các khung hình phạt tăng nặng của một số tội phạm về ma túy. Bộ luật hình sự năm 1999 còn bố sung tình tiết định khung tăng nặng “phạm tội đoi với trẻ em ” tại điếm c khoản 2 điều 198 (tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý).

Ngoài ra, BLHS năm 1999 còn sửa đổi một số tinh tiết tăng nặng định khung một cách cụ thể, rõ ràng hơn để đảm bảo áp dụng thống nhất như: tình tiết “gầy tân hại nặng cho sức khỏe của người khác hoặc gây cố tật nặng cho người khác ” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 185i và tại điểm h của khoản 2 Điều 185mBLHS năm 1985. Bộ luật hình sự năm 1999 đã quy định tỷ lệ thương tật cụ thể đối với những trường hợp này là “gây tôn hại cho sức khỏe người khác và tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%) hoặc tỷ lệ thương tật từ 61%) trở lên Ngày 24/12/2007, Bộ Công an, VKSNDTC, TANDTC, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII ’ ’Cức tội phạm này về ma tuý” cua BLHS năm 1999. Thông tư đã giải thích một số thuật ngữ (khái niệm) hướng dần áp dụng, tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt; hướng dẫn việc truy cúu trách nhiệm hình sự trong trường hợp có nhiều hành vi phạm tội; hướng dẫn áp dụng từng tội danh cụ thể được quy định tại Chương XVIII BLHS năm 1999. Điều đó đã giúp việc nhận thức và áp dụng các quy định của 18 BLHS năm 1999 vê các tội phạm vê ma túy được thông nhât và chính xác.

Ngày 14/11/2015, các cơ quan liên ngành ở Trung ương đã ban hành thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP sửa đổi, bố sung Thông tư số 17/2007/TTLT- BCA -VKSNDTC- TANDTC-BTP. Sửa đồi tiểu mục 1.4 Phần I Thông tư số 17 quy định về giám định hàm lượng chất ma túy, theo đó đã hướng dẫn như sau: “Trong mọi trường hợp khi thu giữ được các chat nghi là ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưng cầu giám định đê xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma túy, tiền chất.” [1], Do có quy định này mà nhiều vụ án về ma túy không đưa ra xét xử được vì cơ quan điều tra không xác định được “hàm lượng chất ma túy” thu giữ được. Trong khi đó tình hình tội phạm về ma túy trên phạm vi cả nước có xu hướng ngày càng tăng và diễn biển phức tạp, nghiêm trọng. Đến nay theo Thông tư số 08/2015/TTLT thì chỉ còn có bốn trường họp bắt buộc phải trưng cầu giám định hàm lượng để xác định trọng lượng chất ma túy, gồm: “a) Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất ma túy ở thể ran được hòa thành dung dịch; b) Chat ma túy, tiền chat dùng vào việc sản xuất ma tủy ở thê lỏng đã được pha loãng; c) Xái thuốc phiện; d) Thuốc gây nghiện, thuốc hưởng thần ” [1].

Giai đoạn từ năm 2015 đến nay Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là BLHS năm 2015) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. Bộ luật này tiếp tục dành một chương quy định các tội phạm về ma túy. Đó là Chương XX “Các tội phạm về ma tuý”. Chương XX gồm 13 điều luật (từ Điều 247 đến Điều 259) quy định 13 tội danh tương ứng với 09 tội quy định trong BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

So với BLHS năm 1999 cho thấy, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 19 năm 2017) có những nội dung sửa đôi bô sung sau đây vê các tội phạm ma tủy: Thứ nhất, quy định cụ thể, rõ ràng hơn các dấu hiệu cấu thành tội phạm và định lượng đối tượng tác động, hậu quả do tội phạm gây ra; đồng thời phân hóa trách nhiệm hình sự giữa các hành vi tội phạm nhằm đảm bảo tính công bằng trong việc xử lý tội phạm, vì thế đã tạo thuận lợi trong việc áp dụng, cụ thể: - QuyJ định rõ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tại 05 điều luật • • • 1 • • • (Điều 249, 250, 252, 257 và 258); bổ sung để làm rõ hành vi “chứa chấp việc sử dụng trải phép chất ma tuỷ” ở Điều 256; bổ sung và sắp xếp lại cho phù hợp với quy trình quản lý, sử dụng chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần ở Điều 259; - Quy định rõ các trường hợp cụ thế bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại khoản 1 của 05 điều luật (Điều 247, 249, 252, 254 và 259).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ