Chương 1 “Các tội xâm phạm an ninh quốc gia Điều 96a quy định 3 khung hình phạt, hình phạt nghiêm khắc nhất áp dụng trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng là tử hình. Tháng 04/1992, Quốc hội thông qua Hiến pháp. Tại Điều 61 Hiến pháp 1992 đã quy định: “Nghiêm cẩm sản xuất, vận chuyên, buôn bản, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma tủy khác. Nhà nước quy định che độ cai nghiên bắt buộc và chữa các bệnh xã hội nguy hiểm'" [17].
Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động lập pháp và áp dụng pháp luật đổi với tội phạm về ma túy. Ngày 05/12/1992, Thông tư liên ngành số 07/TTLN về hướng dẫn áp dụng Điều 96a và Điều 203 BLHS năm 1985 nhằm cụ thể hoá Điều 61 Hiển 15 pháp năm 1992 được ban hành. Lân đâu tiên các cơ quan có thâm quyên sử dụng định lượng thuốc phiện và các chất ma túy khác làm căn cứ để xác định ranh giới giữa xử lý hình sự và xử lý hành chính, cũng như xác định trách nhiệm hình sự theo các khoản của Điều 96a. Các hành vi sản xuất, vận chuyển, tàng trữ trái phép thuốc phiện từ 100 gam trở lên và hành vi mua bán trái phép thuốc phiện với bất kỳ số lượng nào đều bị coi là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự.
Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì dù là lần đầu và dưới bất cứ hình thức nào đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 203 BLHS năm 1985. Cùng với thủ đoạn ngày càng tinh vi, manh động của tội phạm ma tuý; TANDTC, VKSNDTC, Bộ Nội vụ sau khi trao đổi ý kiến với Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 05/TTLN ngày 31/08/1996 và Thông tư số 09/TTLN ngày 10/10/1996 hướng dẫn áp dụng Điều 96a và Điều 203 BLHS năm 1985 với các yêu cầu đặt ra trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống ma túy đặt ra như: + Xác định bổ sung các chất ma túy thường gặp; + Các trường hợp cần giám định để xác định chất ma túy; + Giải thích từ ngữ (đưa ra khái niệm) đối với các hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng chất ma túy; + Xác định đường lối xử lý cũng như trách nhiệm hình sự của người quản lý thuốc gây nghiện mà cố ý làm trái quy chế quản lý thuốc; + Quy định trách nhiệm hình sự trong các trường họp chiếm đoạt chất ma túy; + Quy định số lượng chất ma túy làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự theo các khoản của Điều 96a BLHS và xử lý bằng biện pháp hành chính; + Ngày 10/05/1997, Quốc hội Khoá IX đã thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1985, trong đó quy định một chương riêng (Chương VI1A) "Các tội phạm về ma tuý”. Chương này gồm 14 điều (từ Điều 16 185a đên Điêu 185o), trong đó có 13 điêu quy định các tội phạm vê ma tuý cụ thể (từ Điều 185a đến Điều 185n) và một số điều quy định hình phạt bổ sung (Điều 185o). So với trước đây, Luật Sửa đổi, bổ sung BLHS đã quy định 9 tội danh mới về ma túy, tách các tội phạm quy định tại Điều 96a BLHS năm 1985 thành 4 tội danh độc lập quy định tại các Điều 185a, 185b, 185c, 185đ.
nhằm phân hoá mức độ nguy hiểm và xác định trách nhiệm hình sự phù hợp. Thông tư liên ngành số 01/1998/TTLN ngày 02/01/1998 hướng dẫn áp dụng một số điều của BLHS năm 1985 (sửa đổi) được ban hành thay thế cho thông tư liên ngành số 09/TTLN. Thông tư đã giải thích, hướng dẫn tương đối đầy đủ về các tội sản xuất, buôn bán, vận chuyển, tàng trừ trái phép chất ma túy và một số tội phạm khác của Chương VIIA. Như vậy, BLHS năm 1985 trong hơn 10 năm thi hành đã có 04 lần sửa đổi, bổ sung; điều này giúp các quy định cụ thể về tội phạm ma túy trở nên ngày một hoàn thiện.
Tuy nhiên, giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế theo cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế mới - cơ chế thị trường định hướng XHCN giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở cửa hợp tác rộng rãi với các nước trong khu vực và trên thế giới nên BLHS năm 1985 đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, không còn phù hợp với tình hình mới. Trên tinh thần đó, BLHS năm 1999 được ban hành thay thế BLHS năm 1985. Các tội phạm về ma túy được hệ thống lại và quy định tại Chương XVIII gồm 10 điều (từ Điều 192 đến Điều 201). Với các thay đổi chính: Một là, nhập 4 tội quy định tại các điều Điều 185c (tội tàng trữ trái phép chất ma tuý); Điều 185d (tội vận chuyển trái phép chất ma tuý); Điều 185đ (tội mua bán trái phép chất ma tuý) và Điều 185e (Tội chiếm đoạt chất ma tuý) thành một tội danh mới quy định tại Điều 194 BLHS năm 1999 (Thực chất đây là điều luật quy định tội phạm ghép).
Do vậy từ 13 điều quy định tội phạm về ma túy trong BLHS năm 1985, nay chỉ còn 10 điều luật quy định các tội phạm này trong BLHS năm 1999. 17 Hai là, bỏ hình phạt từ hình đôi với một tội; điêu chỉnh mức xử phạt tù của từng khung hình phạt cho phù hợp với các loại tội phạm được phân loại ở phần chung của BLHS; hình phạt bổ sung không còn quy định ở một điều luật riêng mà đưa vào từng điều luật quy định các tội phạm. Ba là, BLHS đã sửa đổi, bổ sung một số tình tiết định khung hình phạt như: Bỏ tình tiết định khung “có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 điều này” và tình tiết “có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 điều này” ở các khung hình phạt tăng nặng của một số tội phạm về ma túy. Bộ luật hình sự năm 1999 còn bố sung tình tiết định khung tăng nặng “phạm tội đoi với trẻ em ” tại điếm c khoản 2 điều 198 (tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý).
Ngoài ra, BLHS năm 1999 còn sửa đổi một số tinh tiết tăng nặng định khung một cách cụ thể, rõ ràng hơn để đảm bảo áp dụng thống nhất như: tình tiết “gầy tân hại nặng cho sức khỏe của người khác hoặc gây cố tật nặng cho người khác ” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 185i và tại điểm h của khoản 2 Điều 185mBLHS năm 1985. Bộ luật hình sự năm 1999 đã quy định tỷ lệ thương tật cụ thể đối với những trường hợp này là “gây tôn hại cho sức khỏe người khác và tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%) hoặc tỷ lệ thương tật từ 61%) trở lên Ngày 24/12/2007, Bộ Công an, VKSNDTC, TANDTC, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII ’ ’Cức tội phạm này về ma tuý” cua BLHS năm 1999. Thông tư đã giải thích một số thuật ngữ (khái niệm) hướng dần áp dụng, tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt; hướng dẫn việc truy cúu trách nhiệm hình sự trong trường hợp có nhiều hành vi phạm tội; hướng dẫn áp dụng từng tội danh cụ thể được quy định tại Chương XVIII BLHS năm 1999. Điều đó đã giúp việc nhận thức và áp dụng các quy định của 18 BLHS năm 1999 vê các tội phạm vê ma túy được thông nhât và chính xác.
Ngày 14/11/2015, các cơ quan liên ngành ở Trung ương đã ban hành thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP sửa đổi, bố sung Thông tư số 17/2007/TTLT- BCA -VKSNDTC- TANDTC-BTP. Sửa đồi tiểu mục 1.4 Phần I Thông tư số 17 quy định về giám định hàm lượng chất ma túy, theo đó đã hướng dẫn như sau: “Trong mọi trường hợp khi thu giữ được các chat nghi là ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưng cầu giám định đê xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma túy, tiền chất.” [1], Do có quy định này mà nhiều vụ án về ma túy không đưa ra xét xử được vì cơ quan điều tra không xác định được “hàm lượng chất ma túy” thu giữ được. Trong khi đó tình hình tội phạm về ma túy trên phạm vi cả nước có xu hướng ngày càng tăng và diễn biển phức tạp, nghiêm trọng. Đến nay theo Thông tư số 08/2015/TTLT thì chỉ còn có bốn trường họp bắt buộc phải trưng cầu giám định hàm lượng để xác định trọng lượng chất ma túy, gồm: “a) Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất ma túy ở thể ran được hòa thành dung dịch; b) Chat ma túy, tiền chat dùng vào việc sản xuất ma tủy ở thê lỏng đã được pha loãng; c) Xái thuốc phiện; d) Thuốc gây nghiện, thuốc hưởng thần ” [1].
Giai đoạn từ năm 2015 đến nay Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là BLHS năm 2015) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. Bộ luật này tiếp tục dành một chương quy định các tội phạm về ma túy. Đó là Chương XX “Các tội phạm về ma tuý”. Chương XX gồm 13 điều luật (từ Điều 247 đến Điều 259) quy định 13 tội danh tương ứng với 09 tội quy định trong BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
So với BLHS năm 1999 cho thấy, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 19 năm 2017) có những nội dung sửa đôi bô sung sau đây vê các tội phạm ma tủy: Thứ nhất, quy định cụ thể, rõ ràng hơn các dấu hiệu cấu thành tội phạm và định lượng đối tượng tác động, hậu quả do tội phạm gây ra; đồng thời phân hóa trách nhiệm hình sự giữa các hành vi tội phạm nhằm đảm bảo tính công bằng trong việc xử lý tội phạm, vì thế đã tạo thuận lợi trong việc áp dụng, cụ thể: - QuyJ định rõ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tại 05 điều luật • • • 1 • • • (Điều 249, 250, 252, 257 và 258); bổ sung để làm rõ hành vi “chứa chấp việc sử dụng trải phép chất ma tuỷ” ở Điều 256; bổ sung và sắp xếp lại cho phù hợp với quy trình quản lý, sử dụng chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần ở Điều 259; - Quy định rõ các trường hợp cụ thế bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại khoản 1 của 05 điều luật (Điều 247, 249, 252, 254 và 259).