Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ Chương 2: Thực tiễn xét xử và một số giải pháp nâng cao chất lượng xét xử Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ. 5 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ QUYỀN HẠN TRONG THI HÀNH CÔNG VỤ 1. Những vấn đề lý luận về Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ 1. Khái niệm Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ Từ điển Hán Việt giải thích một số thuật ngữ “Lợi dụng là dùng thủ đoạn hoặc dựa vào điều kiện thuận lợi để đoạt lấy lợi ích cho mình, lợi ích này là lợi ích không chính đáng”, “Chức vụ là sự đảm nhiệm một vai trò, địa vị nào đó trong một tổ chức, một tập thể”, “Quyền hạn được hiểu là quyền lực pháp lý của nhà nước được trao cho cá nhân tổ chức trong giới hạn nhất định”, “Công vụ được định nghĩa là việc công, nghĩa là những việc được thực hiện vì lợi ích nhà nước, xã hội, cơ quan tập thể” [11].
Theo quan điểm GS.TS Nguyễn Ngọc Hoa: “Công vụ là hoạt động theo đúng pháp luật của chủ thể được cơ quan nhà nước giao nhằm thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước bao gồm quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án” [8]. Công vụ được lý giải ở nhiều góc độ khác nhau. Theo từ điển Tiếng Việt “Công vụ” được định nghĩa là việc công, nghĩa là những việc được thực hiện vì lợi ích nhà nước, xã hội, cơ quan, tập thể. Theo Luật cán bộ, công chức năm 2008 tại Điều 2 có quy định “Hoạt động công vụ của cán bộ, công chức là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của Luật này và các quy định khác có liên quan” [4].
Theo từ điển giải thích thuật ngữ Luật học: “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ là hành vi làm trái với nhiệm vụ được giao của người có chức vụ quyền hạn” [15, Tr. 6 Hay tại khoản 1 Điều 356 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000 đồng đến dưới 200.000 đồng hoặc gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân [2]. Từ sự phân tích các định nghĩa trên, có thể đưa ra khái niệm Tội lợi dụng chức vụ trong thi hành công vụ: Là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản hoặc thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân ở mức độ theo quy định của Bộ luật hình sự. Đặc điểm Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ Từ những khái niệm trên có thể rút ra các đặc điểm của tội phạm này như sau: Thứ nhất, người thực hiện hành vi Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ trước hết phải đáp ứng cầu chung về chủ thể tội phạm là người có khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình, đủ tuổi chịu TNHS.
Tình trạng không có năng lực TNHS là trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Theo đó, tình trạng không có năng lực TNHS chỉ cần một trong hai dấu hiệu là mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi là đã thỏa mãn. Do vậy, người tuy bình thường vẫn nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi mình gây ra nhưng trong những điều kiện cụ thể mà người này không có khả năng điều khiển hành vi thì cũng được xem là tình trạng mất năng lực TNHS. Ngoài dấu hiệu về năng lực TNHS, chủ thể Tội phạm này còn phải đáp 7 ứng dấu hiệu là người có chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ.
Hoạt động công vụ ở đây được xác định là hoạt động nhân danh nhà nước, đúng pháp luật, do cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc nhà nước giao cho người có chức vụ quyền hạn thực hiện. Thứ hai, Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ thực hiện bởi những người có chức vụ, quyền hạn trong Bộ máy nhà nước, do vậy hành vi tội phạm xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức. Hoạt động đúng đắn của cơ quan tổ chức là hoạt động phù hợp với pháp luật, phù hợp với lợi ích xã hội, của nhà nước, của các tổ chức, do các tội phạm về chức vụ gây ra. Thứ ba, người phạm Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ là lỗi có ý trực tiếp, họ nhận thức được hành vi của mình gây nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn cho hậu quả xảy ra.
Thứ tư, các biểu hiện khách quan bên ngoài của tội phạm được thể hiện bằng những dấu hiệu cụ thể về hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nghiêm trọng cho xã hội. Một hành vi sở dĩ bị quy định trong luật hình sự là tội phạm và phải chịu TNHS vì nó có tính nguy hiểm cho xã hội. Nguy hiểm cho xã hội có nghĩa là gây ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Nếu không xâm phạm vào các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ tì mặc dù hành vi có nguy hiểm cho xã hội, nhưng cũng không bị coi là tội phạm.
Hành vi Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ gây thiệt hại về tài sản hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.1: Hình ảnh minh họa tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ (Nguồn: Internet) 1. Ý nghĩa quy định pháp luật về Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ Các tội phạm tham nhũng nói chung và Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ nói riêng những năm gần đây đã và đang xảy ra ngày một rộng, gây ra những thiệt hại rất lớn cho Nhà nước và xã hội. Việc các nhà làm luật nghiên cứu và ban hành những văn bản quy định về vấn đề nói trên có ý nghĩa hết sức to lớn trong công tác Phòng, chống tham nhũng. Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ được quy định tại điều 356 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 với các yếu tố: Khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan.
Những quy định này trước hết góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự về nhóm tội phạm tham nhũng, tạo sự phong phú cho hệ thống pháp luật Việt Nam. Đồng thời là căn cứ cho các cơ quan bảo vệ pháp luật điều tra, truy tố, xét xử tội phạm đúng 9 với tính chất, mức độ và hậu quả gây ra. Bên cạnh đó, là cơ sở để VKS, TAND phân biệt giữa các tội phạm trong nhóm tội phạm tham nhũng về chức vụ, đưa ra những bản án, quyết định chính xác, hạn chế mức thấp nhất các vụ án bị kháng nghị, kháng cáo. Ngoài ra, việc quy định về khung hình phạt theo mức độ và tính chất người phạm tội gây ra nhằm cung cấp thông tin cho mọi người nói chung và cán bộ, công chức, những cá nhân có ít nhiều quyền hành trong hệ thống chính trị, bộ máy nhà nước nói riêng về những hình phạt nếu có hành vi phạm tội theo quy định pháp luật.
Cuối cùng, việc nghiên cứu và quy định về Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ góp phần ổn định chính trị, làm sạch hệ thống bộ máy nhà nước, các cơ quan đầu não, bảo đảm cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa “hồng”, vừa “chuyên”, duy trì trật tự an ninh xã hội. Từ đó tạo niềm tin trong quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, thúc đẩy nên kinh tế nước nhà phát triển. Quy định pháp luật về Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ 1. Dấu hiệu pháp lý hình sự Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ Tội phạm là một thể thống nhất, hoàn chỉnh giữa bên trong và bên ngoài, giữa suy nghĩ và hành động.
Do vậy được kết hợp từ bốn yếu tố: Khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm. Cấu thành pháp lý của bất kì tội phạm nào cũng thể hiện trong các yếu tố cấu thành tội phạm. Khách thể Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm phạm đến và được luật Hình sự bảo vệ. Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành 10 công vụ được quy định tại chương các tội phạm về chức vụ, theo quy định tại Điều 352 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: “Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ”.
Hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức là hoạt động theo đúng quy định của pháp luật hiện hành, phù hợp với pháp luật, phù hợp với lợi ích xã hội, của Nhà nước, của các tổ chức, phù hợp với lợi ích công dân [16, Tr. Trong khi thi hành công vụ, người có chức vụ, quyền hạn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ xuất phát từ vị trí công tác và nhiệm vụ cụ thể của bản thân. Nhưng trái với quy định thì chủ thể thực hiện công vụ không những không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của bản thân để hoàn thành công việc, nhiệm vụ được giao mà còn sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình như một phương tiện phạm tội để thực hiện hành vi phạm tội và qua đó gây thiệt hại đến lợi ích chính đánh của tập thể, cá nhân hay cơ quan Nhà nước.