Mở đầu cho những hoạt động lập pháp có ý nghĩa đối với việc bảo vệ môi trường là việc tạo ra một cơ sở pháp lý quan trọng tại Điều 13 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980: “Các cơ quan Nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải tạo môi trường sống”. Bước đầu nhận thức được chủ trương mang tính Hiến định này, các nhà làm luật khi xây dựng BLHS nãm 1985 đã đưa vào đó một số điều luật quy định các tội phạm về môi trường, trong đó có các hành vi liên quan đến dịch bệnh, cụ thể tại Điều 195 về Tội vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường gây hậu quả nghiêm trọng quy định như sau: “1. Người nào vi phạm các quy định về giữ gìn vệ sinh công cộng, về phòng ngừa và chống dịch bệnh, về bảo vệ môi trường gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đên hai năm. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.” Việc quy định một số tội phạm có liên quan đến môi trường nêu trên đã cho thấy một bước phát triển mới trong nhận thức cũng như trong hành động của Nhà nước Việt Nam đối với vấn đề bảo vệ môi trường bằng pháp luật hình sự.
Tuy nhiên, quy định trên vẫn còn còn mang tính chất chung chung, cả về tội danh lẫn sự mô tả các dấu hiệu của cấu thành tội phạm và chưa làm nổi bật mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đối với sức khỏe, tính mạng của con người. Vào thời điểm đó, BLHS năm 1985 chưa tiên liệu hết sự đa dạng cũng như tính chất nguy hiểm cho xã hội của một số hành vi xâm hại môi trường. Theo một nghiên cứu đánh giá: “BLHS năm 1985 chưa thể hiện được tính cấp bách và tầm 15 quan trọng đặc biệt của việc đấu tranh với các hành vi xâm hại môi trường. Điều này không chỉ thể hiện qua việc BLHS năm 1985 chưa dành riêng một chương cho các tội phạm về môi trường, mà còn dễ dàng nhận thấy qua việc một số tội phạm về môi trường được gộp lại với những tội phạm khác và được hiểu không phải với tư cách là những tội phạm về môi trường” [28, tr.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, với tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhanh như hiện nay, sự suy thoái nhanh của các thành tố môi trường cùng với các tác hại của nó đối với đời sống xã hội đang đặt ra một yêu cầu bức xúc cho việc bảo vệ môi trường sinh thái. Vào những năm tiếp theo, nhận thức của Việt Nam về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường ngày càng trở nên sâu sắc hơn. Hiến pháp nước ta năm 1992 đã bổ sung quy định: “Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và hủy hoại môi trường”.
Bên cạnh đó, ngày 25/6/1998, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 36/CTTW về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong đó nhấn mạnh: “Bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại” [1], đồng thời đưa ra một số giải pháp cơ bản trong đó có giải pháp hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường. Trong Tờ trình Quốc hội về dự án BLHS (sửa đổi) của Chính phủ số 1218/CP-PC ngày 19/10/1998, một trong những quan điểm được quán triệt trong quá trình soạn thảo Bộ luật là “bảo vệ môi trường sinh thái”. Những quan điểm chỉ đạo nêu trên của Đáng và Nhà nước ta đã trở thành định hướng quan trọng cho việc xây dựng quy định về các tội phạm về môi trường trong BLHS năm 1999. Liên quan đến hành vi làm lây lan dịch bệnh, lần đầu tiên tại Điều 186 BLHS năm 1999 quy định điều luật riêng về tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người, cụ thể: 16 “1.
Người nào có một trong các hành vi sau đây làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm: a) Đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người; b) Đưa vào hoặc cho phép đưa vào Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiểm có khả năng truyền cho người; c) Hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”. Điều luật trên đã cho thấy nhận thức về tầm nguy hiểm của dịch bệnh và các phương án an toàn vệ sinh dịch tễ ngày càng được nâng cao, sức khỏe và tính mạng cộng đồng cũng được chú trọng hơn, bởi lẽ, trong giai đoạn này, ngày càng nhiều những dịch bệnh nguy hiểm trên thế giới có tốc độ lây lan chóng mặt xuất hiện không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới (như cúm gia cầm H5N1, dịch SARS, dịch sốt xuất huyết…) và đến nay có thể kể đến đại dịch toàn cầu COVID-19.
Đến nay, sự nguy hiểm của những dịch bệnh truyền nhiễm đang thể hiện rất rõ bởi những hậu quả nghiêm trọng mà nó gây ra, thậm chí chưa có dấu hiệu chấm dứt như sự xuất hiện của dịch COVID-19. Việc hoàn thiện khung pháp luật, nhất là pháp luật hình sự, nhằm ngăn chặn, xử lý các hành vi làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm theo đó trở nên ngày càng quan trọng, góp phần đáng kể vào việc phòng ngừa, ngăn chặn sự lây lan nhanh chóng của 17 dịch bệnh cũng như bảo vệ sức khỏe, tính mạng cộng đồng. Chính vì vậy, BLHS năm 2015 của nước ta ra đời tiếp tục sửa đổi, bổ sung quy định về tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người trong BLHS năm 1999 và chính thức ghi nhận tại Điều 240 với nội dung gồm bốn điều khoản mà cụ thể sẽ được phân tích trong các phần tiếp theo. Các dấu hiệu pháp lý và trách nhiệm hình sự đối với tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người theo Bộ luật hình sự năm 2015 1.
Các dấu hiệu pháp lý của tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người và sự khác biệt so với một số tội phạm có liên quan khác 1. Các dấu hiệu pháp lý Tội phạm làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người được quy định tại Điều 240 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như sau: “1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người, thì bị phạt tiền từ 50.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Đưa ra hoặc cho phép đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng lây truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; b) Đưa vào hoặc cho phép đưa vào lãnh thổ Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiểm có khả năng lây truyền cho người; c) Hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: 18 a) Dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Bộ trưởng Bộ Y tế; b) Làm chết người.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 12 năm: a) Dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ; b) Làm chết 02 người trở lên. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.” Các các dấu hiệu pháp lý của tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người được thể hiện trong khoản 1 Điều 240, cụ thể: a. Khách thể của tội phạm Theo nghiên cứu một số quan điểm khác nhau về khách thể tội phạm trong khoa học luật hình sự, về cơ bản định nghĩa khách thể của tội phạm là “quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm nhưng bị tội phạm xâm phạm đến và gây nên (hoặc có thể gây nên) thiệt hại đáng kể nhất định” [14, tr. Chứng minh khách thể của tội phạm là việc xác định có quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ bị xâm hại hay không, bởi lẽ nếu không có quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ nào bị xâm hại thì không có tội phạm.
Do đó, bất kỳ tội phạm nào được quy định tại Phần các tội phạm trong BLHS Việt Nam hiện hành cũng đều xâm hại đến một hoặc một số quan hệ xã hội nhất định bằng việc gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội đó. Trong Phần các tội phạm của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người được quy 19 định tại Chương Các tội phạm về môi trường, theo đó khách thể trực tiếp của hành vi phạm tội này là chế độ bảo vệ môi trường của Nhà nước ta [11, tr. 266] và đồng thời có nguy cơ cao làm xâm phạm đến tính mạng và sức khỏe con người. “Chế độ bảo vệ môi trường” có thể được hiểu là hệ thống các cách thức, biện pháp được pháp luật ghi nhận, điều chỉnh để bảo vệ môi trường sống tự nhiên của các thực thể tồn tại trong môi trường đó (bao gồm cả động, thực vật, con người).