Phần mở đầu Chƣơng 1: 34 trang, gồm 02 mục Chƣơng 2: 20 trang, gồm 04 mục Chƣơng 3: 15 trang, gồm 04 mục 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI HỢP PHÁP HÓA TIỀN, TÀI SẢN DO PHẠM TỘI MÀ CÓ 1. Khái niệm và các dấu hiệu cơ bản của tội Hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có 1. Khái niệm Hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có là một tội mới, đƣợc quy định lần đầu tiên trong Bộ luật hình sự 1999 tại Điều 251. Điều luật quy định nhƣ sau: Điều 251: Tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có 1.
Người nào thông qua các nghiệp vụ tài chính, ngân hàng hoặc các giao dịch khác để hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có hoặc sử dụng tiền, tài sản đó vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc các hoạt động kinh tế khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm: a. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; c. Phạm tội nhiều lần.
Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ tám năm đến mười lăm năm. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Người phạm tội có thể bị tịch thu tài sản, phạt tiền đến ba lần số tiền hoặc giá trị tài sản được hợp pháp hóa, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm. Xét một cách tổng quát, điều luật trên rất chung chung, chỉ quy định hai nhóm hành vi khách quan mà không mô tả đƣợc các hành vi cụ thể của tội hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có, và hoàn toàn chƣa đƣa ra khái niệm hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có.
Hai nhóm hành vi khách quan của tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có theo Điều 251 Bộ luật hình sự 1999 gồm: - Sử dụng các nghiệp vụ tài chính, ngân hàng hoặc các giao dịch khác để hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có, hoặc - Sử dụng tiền, tài sản do phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc các hoạt động kinh tế khác. Theo quan điểm của tác giả, hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có là việc một ngƣời thông qua bất kỳ thức giao dịch nào để làm cho tiền, tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp trở thành tiền, tài sản hợp pháp. Các hình thức giao dịch này có thể là giao dịch dân sự thông thƣờng hoặc giao dịch mang tính chất kinh tế, thƣơng mại. Do đó, với quan điểm trên, hành vi khách quan của tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có sẽ rộng hơn so với hành vi khách quan đƣợc quy định tại Điều 251 của Bộ luật hình sự 1999 hiện nay.
Các dấu hiệu pháp lý cơ bản của tội Hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có Mỗi tội phạm đều có các dấu hiệu cơ bản bao gồm: chủ thể, khách thể, mặt chủ quan, mặt khách quan của tội phạm. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chủ thể của tội phạm là con ngƣời cụ thể có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định đã thực hiện hành vi phạm tội. Ngoài ra, ở một số tội nhất định còn đòi hỏi chủ thể phải có các dấu hiệu khác thể hiện những đặc điểm nhất định của chủ thể. Bất cứ tội phạm nào cũng phải có chủ thể của tội phạm.
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại. Bất cứ hành vi phạm tội nào cũng đều gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho một số quan hệ xã hội nhất định đƣợc luật hình sự bảo vệ. Không có sự xâm hại quan hệ xã hội đƣợc luật hình sự bảo vệ thì không có tội phạm. Mặt chủ quan của tội phạm là những biểu hiện tâm lý bên trong của tội phạm bao gồm: lỗi, mục đích và động cơ phạm tội.
Bất cứ tội phạm cụ thể nào cũng phải là hành vi có lỗi (cố ý hoặc vô ý). Động cơ và mục đích phạm tội là nội dung biểu hiện của mặt chủ quan ở một số tội nhất định. Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm gồm: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả cũng nhƣ các điều kiện bên ngoài khác của tội phạm (nhƣ công cụ, phƣơng tiện, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội v. Không có biểu hiện bên ngoài của tội phạm thì cũng không có tội phạm.
Nghiên cứu các dấu hiệu cơ bản của tội “Hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có” chính là nghiên cứu bốn yếu tố: chủ thể, khách thể, mặt chủ quan, mặt khách quan của tội này. 1) Chủ thể: Chủ thể của tội hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có là chủ thể đặc biệt. Tính đặc biệt đƣợc thể hiện trƣớc tiên ở chỗ: Hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có là một loại tội phái sinh, tức là trƣớc khi trở thành chủ 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thể của tội phạm này, ngƣời phạm tội phải là chủ thể của tội khác. Họ phải là ngƣời đã thực hiện hành vi phạm tội khác, có đƣợc tiền, tài sản từ việc thực hiện tội phạm đó và ngƣời đó đã sử dụng các biện pháp nghiệp vụ về kinh tế, thƣơng mại, tài chính, ngân hàng hoặc các giao dịch khác để làm cho đồng tiền có đƣợc từ hoạt động phạm tội trƣớc đây của mình trở thành đồng tiền hợp pháp.
Cần lƣu ý yếu tố chủ thể là dấu hiệu cơ bản để phân biệt tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có quy định tại Điều 250, Bộ luật hình sự 1999. Nếu tiền, tài sản đƣợc hợp pháp hoá là tiền tài sản do chính ngƣời hợp pháp hóa phạm tội mà có thì hành vi hợp pháp hoá cấu thành tội hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có quy định tại Điều 251, Bộ luật hình sự 1999. Còn nếu tiền, tài sản đó là do ngƣời khác phạm tội mà có thì ngƣời hợp pháp hoá không phạm tội này mà phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có quy định tại Điều 250, Bộ luật hình sự 1999. Ngƣời phạm tội hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có phải là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định.
Theo quy định tại Điều 12 và Điều 251, Bộ luật hình sự 1999, ngƣời phạm tội hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 14 tuổi trở lên nếu thực hiện hành vi quy định ở khoản 2, khoản 3; từ đủ 16 tuổi trở lên nếu thực hiện hành vi quy định ở bất kỳ khoản nào của Điều 251, Bộ luật hình sự 1999. Nhƣ vậy, có thể xảy ra trƣờng hợp có ngƣời là chủ thể của tội phạm khác (chủ thể của tội phạm nguồn, tức tội phạm đã làm phát sinh tiền, tài sản cần hợp pháp hóa) nhƣng lại không đủ điều kiện là chủ thể của tội phạm này do chƣa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo tội này. Ví dụ: Nguyễn Văn A 15 tuổi thực hiện hành vi cƣớp tài sản (lỗi cố ý) đƣợc 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. A mang số tiền này gửi vào tài khoản ATM ở một ngân hàng, sau đó rút ra nhƣ một khoản tiền “sạch” thì hành vi của A chỉ bị xử lý theo tội phạm nguồn là cƣớp tài sản chứ không bị xử lý theo tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có do chƣa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có.
2) Khách thể: Tội hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có xâm phạm trật tự quản lý nhà nƣớc đối với tiền, tài sản do phạm tội mà có. Tiền, tài sản do phạm tội mà có trong khách thể của tội này không phải tất cả tiền, tài sản có nguồn gốc từ tội phạm nói chung mà là tiền, tài sản do chính chủ thể của tội hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có có đƣợc từ hoạt động phạm tội trƣớc đó của họ. Nếu tiền, tài sản có đƣợc từ việc phạm tội của ngƣời khác thì không thuộc khách thể của tội này mà là khách thể của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có đƣợc quy định tại Điều 250, Bộ luật hình sự 1999. 3) Mặt chủ quan: Lỗi của ngƣời phạm tội hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có là lỗi cố ý.
Ngƣời phạm tội có đƣợc tiền, tài sản từ hoạt động phạm tội trƣớc đó của mình, biết rõ hành vi hợp pháp hoá tiền, tài sản có đƣợc từ hoạt động phạm tội là nguy hiểm cho xã hội và bị luật hình sự cấm, thấy trƣớc đƣợc hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi hợp pháp hoá… của mình gây nên nhƣng họ vẫn mong muốn thực hiện đƣợc hành vi cũng nhƣ mong muốn xảy ra hậu quả là tiền, tài sản do phạm tội mà có sẽ trở thành tiền, tài sản hợp pháp. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khi thực hiện hành vi phạm tội này, ngƣời phạm tội luôn có mục đích làm cho tiền, tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp trở thành tiền, tài sản hợp pháp. Do đó, mục đích là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm này, không phụ thuộc vào việc ngƣời phạm tội có đạt đƣợc mục đích của mình hay không. 4) Mặt khách quan: - Hành vi khách quan Điều 251 Bộ luật hình sự 1999 không nêu cụ thể và đầy đủ các hành vi hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có mà chỉ quy định rất chung chung hai nhóm hành vi sau: + Thông qua các nghiệp vụ tài chính, ngân hàng hoặc các giao dịch khác để hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có, hoặc + Sử dụng tiền, tài sản do phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động kinh tế khác.