CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỘI HIẾP DÂM 1. Những vấn đề lý luận của tội hiếp dâm 1. Quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người Một xã hội muốn phát triển bền vững phải dựa vào yếu tố quan trọng nhất là con người. Con người cải biến xã hội: Giao lưu để phát triển văn hóa và lao động, sản xuất phát để triển kinh tế.
Ngoài ra con người cũng làm cách mạng chính trị và cách mạng xã hội nhằm xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột, tạo ra chế độ mới công bằng, tiến bộ hơn. Vậy con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển, cần thiết lập môi trường sống an toàn cho con người. Sức khỏe được xem như tài sản quý báu nhất mà mỗi người có. Nói một cách dễ hiểu thì sức khỏe là tình trạng cơ thể không có bệnh tật hoặc không có thương tật.
Nhưng theo quan điểm sức khỏe của Tổ chức Y tế thế giới WHO (World Health Organization) thì sức khỏe không chỉ biểu hiện giá trị về mặt thể chất mà nó còn bao gồm cả yếu tố tinh thần: “Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có 3 tình trạng không có bệnh hay thương tật”. Thời đại ngày nay, gắn liền với sự tiến bộ của nhân loại thì nhu cầu về cuộc sống của con người cũng thay đổi. Khoa học, kỹ thuật đạt trình độ cao, kéo theo kinh tế và văn hóa, y tế, giáo dục cũng phát triển. Đời sống con người ổn định, các nhu cầu vật chất như ăn, ở, mặc được đáp ứng đầy đủ.
Họ không chỉ cần có cuộc sống ấm no mà còn cần có hạnh phúc: Cơ thể khỏe mạnh kết hợp với tinh thần vui vẻ, thoải mái, không rối loạn tâm lý. Mỗi người không thể tách rời nhau trong đời sống cộng đồng. Ngay từ thời tiền sử con người sớm cùng nhau lao động, săn bắt, hái lượm. Quy luật của phép biện chứng duy vật đã chứng minh rằng: Con người vừa là thực thể tự nhiên, vừa là thực thể xã hội; con người sinh ra đã liên hệ với nhau, tác động lẫn nhau và tác động vào tự nhiên, xã hội.
Cùng với sự biến đổi của xã hội thì các mối quan hệ ngày càng mở rộng, tạo cho họ sự chú ý về vai trò, vị trí của bản thân trong xã hội. Đến khi ấy vấn đề danh dự, nhân phẩm sẽ trở thành yếu tố cần quan tâm, bảo vệ. Dưới góc độ xã hội học thì con người chúng ta luôn có những phẩm chất nhất định. Những phẩm chất 3 Theo định nghĩa về sức khỏe của WHO vào năm 1946 và năm 2006.
Constitution of the World Health Organization – Basic Documents, Forty-fifth edition, Supplement, October 2006. 8 này quy định giá trị của cá nhân. Đó là nhân phẩm. Vậy nhân phẩm là toàn bộ những phẩm chất mà mỗi con người có được.
Nói cách khác, nhân phẩm là giá trị tồn tại của mỗi con người. Còn danh dự là sự coi trọng, đánh giá cao của dư luận xã hội đối với một người dựa trên các giá trị tinh thần, đạo đức của người đó. Tôn trọng danh dự, nhân phẩm là tôn trọng giá trị con người, tôn trọng các quy tắc, chuẩn mực đạo đức. Dưới góc độ pháp lý: Danh dự, nhân phẩm gắn liền với quyền nhân thân.
Danh dự, nhân phẩm là sự công nhận của cá nhân, của tổ chức, của nhà nước về những giá trị của con người và sự coi trọng vai trò, vị trí của chủ thể trong quan hệ pháp luật. Mọi người, mọi công dân không phân biệt dân tộc, giới tính, tôn giáo, điều kiện kinh tế đều có quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm trở thành nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật nói chung, ngành luật hình sự nói riêng. Bảo hộ ở góc độ chính trị thường hiểu là sự cai trị, sự áp đặt, sự yêu cầu của giai cấp nắm quyền đối với giai cấp yếu thế. Tuy nhiên xét về ý nghĩa pháp lý thì bảo hộ chính là bảo vệ, giữ gìn, che chở đối với quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể tham gia quan hệ pháp luật.
Vậy phải hiểu như sau: Mọi người, mọi công dân đều có quyền được pháp luật bảo vệ về các giá trị liên quan đến sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Công nhận quyền này sẽ bảo đảm không bị sự xâm phạm giữa những cá nhân với nhau, đồng thời ngăn chặn sự lạm quyền, tùy tiện của chủ thể đại diện quyền lực. Quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm được ghi nhận trong pháp luật quốc tế khi Điều 3, Điều 5 và Điều 12 Tuyên ngôn thế giới về Quyền Con người năm 1948 (The Universal Declaration of Human Rights, thường được gọi tắt: UDHR) quy định: “Ai cũng có quyền được sống, tự do, và an toàn thân thể”; “Không ai có thể bị tra tấn hay bị những hình phạt hoặc những đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp nhân phẩm”; “Không ai có thể bị xâm phạm một cách độc đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hay bị xúc phạm đến danh dự hay thanh danh. Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy”.
Xét ở góc độ tư tưởng – chính trị thì tuyên ngôn không có giá trị pháp lý. Do đó Liên hiệp quốc ban hành hai công ước bảo vệ các quyền cơ bản của con người: “Công ước về các quyền dân sự và chính trị” năm 1966 (Việt Nam gia nhập ngày 24 – 9 – 1982) và “Công ước về các quyền kinh tế - xã hội và văn hóa” năm 1966 (Việt Nam gia nhập ngày 24 – 9 – 1982). Điều 7 và Điều 17 Công ước quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 (International Covenant on Civil and Political Rights, thường được gọi tắt: ICCPR) quy định: “Không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm…”; “Không ai bị can thiệp 9 một cách tuỳ tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín” và “Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những can thiệp hoặc xâm phạm như vậy”. Khoản 1 Điều 12 Công ước quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966 (International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights, viết tắt: ICESCR) quy định: “Các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận quyền của mọi người được hưởng một tiêu chuẩn sức khoẻ về thể chất và tinh thần ở mức cao nhất có thể được”.
Việt Nam là thành viên của ICCPR và ICESCR nên “nội luật hóa” quyền được bảo hộ về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm trong hệ thống pháp luật quốc gia. Quyền này được quy định từ Hiến pháp Việt Nam năm 1980. Sau các lần sửa đổi, bổ sung thì khoản 1 Điều 20 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định rõ hơn: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”. Quy định và chế tài của luật hình sự nghiêm khắc nhất.
Bởi vì luật hình sự điều chỉnh các hành vi gây nguy hiểm cho xã hội. Chương XIV BLHS năm 2015 quy định về Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người (từ Điều 123 đến Điều 156). Đây là cơ sở để chể tài các hành vi phạm tội, nhằm bảo đảm an ninh, trật tự xã hội, bảo đảm quyền con người. Riêng BLTTHS thể chế hóa thành một nguyên tắc cơ bản để bảo đảm việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Điều 12 của Chương II (chương về những nguyên tắc cơ bản) BLTTHS 2015 quy định: “Mọi người có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản” và “Mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân đều bị xử lý theo pháp luật”. Khái niệm xâm phạm tình dục và các tội xâm phạm tình dục Quyền về tình dục là quyền thuộc nhóm quyền sức khỏe, danh dự, nhân phẩm đã được WHO, Liên hiệp quốc và pháp luật các quốc gia công nhận. Hiện nay có nhiều cách định nghĩa về quyền tình dục, tuy nhiên chưa có một định nghĩa chính thức nào được quốc tế thừa nhận. Theo Liên đoàn quốc tế các bậc cha mẹ có kế hoạch (International Planed Parenthood Federation, viết tắt: IPPF) thì quyền về tình dục là một tập hợp các quyền đang được củng cố liên quan đến tình dục mà góp phần vào tự do, bình đẳng và nhân phẩm của tất cả mọi người.Vũ Công Giao và ThS.Nguyễn Minh Tâm thì quyền về tình dục là khả năng của mọi cá nhân, theo 10 một cách thức tự do và có trách nhiệm, được biểu lộ xu hướng, thực hành và hưởng thụ đời sống tình dục một mình hoặc với người khác mà không phải chịu bất kỳ sự cản trở, trừng phạt, lạm dụng, bóc lột hay phân biệt đối xử nào, miễn là không làm ảnh hưởng đến các quyền, tự do và lợi ích chính đáng của người khác và của cộng 4 đồng.
Tuyên ngôn toàn cầu về quyền tình dục (thông qua tại Hội nghị thế giới lần thứ 14 về tình dục, tổ chức tại Hồng kông, Trung Quốc, năm 1999) ghi nhận một số nội hàm về quyền tình dục cơ bản như: Quyền tự do tình dục; quyền tự chủ về tình dục, toàn vẹn về tình dục và được an toàn thân thể trong hoạt động tình dục; quyền về sự riêng tư trong tình dục; quyền được công bằng trong tình dục; quyền được hưởng khoái lạc tình dục; quyền được bày tỏ xúc cảm tình dục; quyền được tự do kết hợp về tình dục; quyền được tự do quyết định một cách có trách nhiệm về việc sinh đẻ; quyền được tiếp nhận những thông tin khoa học về tình dục; quyền được 5 giáo dục tình dục toàn diện; quyền được chăm sóc sức khỏe toàn diện. Pháp luật Việt Nam chưa có định nghĩa chung cho khái niệm xâm phạm tình dục, chỉ có định nghĩa khái niệm xâm hại tình dục trẻ em và khái niệm xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi.