Chương 1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC QUY PHẠM VỀ TỘI CỐ Ý LÀM TRÁI QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ QUẢN LÝ KINH TẾ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC QUY PHẠM VỀ TỘI CỐ Ý LÀM TRÁI QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ QUẢN LÝ KINH TẾ TRƯỚC PHÁP ĐIỂN HÓA LẦN THỨ NHẤT NĂM 1985 Quá trình hình thành và phát triển của các quy phạm về tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gắn liền với sự phát triển của các chính sách pháp luật của đất nước. Sự hình thành và phát triển của các quy phạm pháp luật về tội cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế có thể được tìm hiểu qua từng thời kỳ, giai đoạn cụ thể sau đây. Thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1954 Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã khai sinh ra nước Việt nam dân chủ cộng hòa, nước ta đã phải đương đầu với rất nhiều khó khăn, thử thách do giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm và đặc biệt nền kinh tế kiệt quệ sau chiến tranh.
Lợi dụng những khó khăn trước mắt về kinh tế, nhiều hành vi tội phạm kinh tế trong thời kỳ này xuất hiện ngày càng nhiều như; nạn buôn lậu, buôn bán hàng cấm, làm bạc giả xảy ra rất phức tạp. Trong đó có cả một số cán bộ của các cơ quan nhà nước, nhà máy công, sở cũng lợi dụng biển thủ công quỹ, nhận hối lộ… Sau khi giành được độc lập, Đảng và Nhà nước ta, mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định chính sách pháp luật trong nhà nước dân chủ nhân dân; "Trước chúng ta đã bị quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hiến pháp dân chủ" [24, tr.
Nhất quán chủ trương đó, Nhà nước ta đã cho ra đời bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và các chính sách pháp luật phù hợp với tình hình thực tế của từng giai đoạn lịch sử góp phần bảo vệ nền độc lập của dân tộc, bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, xây dựng đất nước ổn định và phát triển. Nhưng do thời kỳ này chúng ta vừa giành được độc lập, trước mắt chúng ta đang còn rất nhiều việc cần phải thực hiện ngay như; phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội… Do vậy, việc ban hành các chính sách pháp luật vẫn còn nhiều hạn chế, trong đó có các nguyên nhân chủ quan và khách quan. Xét về nguyên nhân chủ quan, vừa giành được chính quyền về tay nhân dân. Bộ máy nhà nước ta thời kỳ này còn non trẻ.
Mặt khác, đội ngũ cán bộ nước ta thời kỳ này còn nhiều hạn chế về trình độ chuyên môn nhất là về kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, do tình hình hết sức khẩn trương không thể ban hành kịp các văn bản quy phạm pháp luật nói chung, văn bản quy phạm pháp luật hình sự cần thiết nói riêng nên ngày 10/10/1945, Nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh số 47-SL cho tạm thời giữ các luật lệ cũ, trong đó có Bộ "Luật hình An Nam", Bộ "Hoàng Việt hình luật" và Bộ "Hình luật pháp tu chính" với điều kiện không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa [30, tr. Xét về nguyên nhân khách quan, sau khi giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước ta ra sức củng cố và giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Được thể hiện bằng hành động cụ thể, chống thù trong giặc ngoài.
Do vậy mà công tác ban hành các chính sách pháp luật chưa được chú trọng. Trong giai đoạn này, Chính phủ đã ban hành một số sắc lệnh quan trọng làm cơ sở pháp lý cho công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm kinh tế như Sắc lệnh số 26/SL ngày 25/2/1946 về trừng trị tội phá hoại cộng sản; Sắc lệnh 223/SL ngày 17/11/1946 quy định truy tố các tội hối lộ, biển thủ công quỹ. Trong một loạt các hành vi phạm tội trên, có chứa đựng một phần 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nào hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế mà sau này được quy định thành một tội riêng. Hành vi cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế trong giai đoạn này chưa được quy định cụ thể trong các văn bản chính sách, pháp luật của Nhà nước một cách cụ thể, riêng biệt mà nó được đan xen cùng với một số tội phạm khác.
Các tội phạm nói chung, tội phạm kinh tế nói riêng trong thời kỳ này được xử lý chủ yếu dựa vào quan điểm đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước lúc bấy giờ. Tóm lại, trong thời kỳ này, sự phát triển của hệ thống pháp luật nói chung vẫn còn thiếu và yếu, trong đó sự hình thành và phát triển của các quy phạm của tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế chưa cụ thể và thiếu rõ ràng. Các quy phạm này mới chỉ đề cập về loại hành vi của tội cố ý làm trái, giai đoạn này vẫn chưa có tiêu chí cụ thể. Càng về các thời kỳ sau này tội cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế ngày càng được quy định rõ ràng và cụ thể hơn.
Thời kỳ từ 1954 đến năm 1975 Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết. Nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau. Ở miền Bắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, toàn thể nhân dân ta bước vào thời kỳ mới khắc phục hậu quả sau chiến tranh, phục hồi kinh tế, ổn định trật tự xã hội và đời sống nhân dân. Trong giai đoạn này, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành một loạt các chính sách pháp luật, trong đó có những quy phạm để trừng trị và răn đe những hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế.
1- Những nhiệm vụ mà Chính phủ đã đề ra: hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục lại nên kinh tế quốc dân, làm giảm bớt khó khăn về đời sống của nhân dân phù hợp với tình hình đất nước ta, phù hợp với nguyện vọng của 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mọi tầng lớp nhân dân, phù hợp cho công cuộc đấu tranh cho hòa bình thống nhất, độc lập dân chủ của nhân dân ta. Phương châm khôi phục kinh tế, khôi phục và phát triển nông nghiệp, khôi phục công nghiệp và thương nghiệp đều hướng về dân sinh phục vụ cho sản xuất của nhân dân, phục vụ cho công cuộc kiến thiết của nước nhà (Nghị quyết kinh tế 1955 của Quốc hội) Ngày 15/6/1956 của Chủ tịch nước đã ban hành Sắc lệnh số 267-SL về trừng trị những âm mưu, hành động phá hoại hoặc làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, của Hợp tác xã và của nhân dân, làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch xây dựng kinh tế và văn hóa "Sự nghiệp xây dựng kinh tế và văn hóa của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nhằm phục vụ lợi ích của toàn dân. Kẻ nào phá hoại sự nghiệp ấy là làm hại nhân dân. Để góp phần vào việc bảo vệ sự nghiệp xây dựng kinh tế và văn hóa, nay ban hành sắc lệnh này nhằm trừng trị những âm mưu, hành động phá hoại hoặc làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã và của nhân dân, làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch xây dựng kinh tế và văn hóa" (Sắc lệnh số 267) Điều 4 của Sắc lệnh 267 ngày 15/6/1956 còn quy định như sau: Kẻ nào vì mục đích phá hoại mà làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch kinh tế và văn hóa của nhà nước bằng bất cứ cách nào như: tuyên truyền chống phá chính sách, chống kế hoạch, phao đồn tin bịa đặt gây sự nghi ngờ hoang mang trong quần chúng, hành động chống chính sách, chống kế hoạch, không làm hoặc làm sai công việc mình phụ trách, làm gián đoạn công việc thường xuyên; kìm hãm sự phát triển của một bộ phận, một ngành hoạt động, gây mâu thuẫn, chia rẽ nội bộ công nhân viên, cán bộ, 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xã viên hoặc chia rẽ nhân dân và cán bộ …sẽ bị phạt từ 5 năm đến 20 năm tù.
Quy phạm này một lần nữa phản ánh quan điểm của Nhà nước ta trong việc trừng trị những hành vi gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, Hợp tác xã và của nhân dân. Sau khi chúng ta thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1960- 1965) và nhất là từ khi đế quốc Mỹ gây ra chiến tranh phá hoại ở miền Bắc nước ta, công tác tổ chức và quản lý kinh tế, việc xây dựng và thi hành các chế độ, thể lệ về quản lý kinh tế có phần bị buông lỏng; công tác giáo dục và phát động quần chúng đông đảo tham gia bảo vệ của công làm chưa tốt. Việc trừng trị những hành động nhằm xâm hại tài sản xã hội chủ nghĩa cũng thiếu nghiêm minh và kịp thời. Những hiện tượng tiêu cực như tham ô, trộm cắp, lãng phí tài sản của Nhà nước và của Hợp tác xã chưa được ngăn chặn một cách có hiệu quả, được thể hiện qua một số vụ án cụ thể trong thời kỳ đó.
Ví dụ 1: Vụ Nguyễn Hữu Cờ và đồng bọn tham ô, cố ý làm trái. Ngày 17/7/1960 Nguyễn Hữu Cờ và đồng bọn tham ô ở nhà máy in Tiến Bộ, Hà Nội, lợi dụng những sở hở về quản lý kinh tế của giám đốc nhà máy, Nguyễn Huy Cờ (nhân viên kế toán) đã cấu kết với Trương Công Nhận và Trần Văn Pha (nhân viên cung ứng) hoạt động tham ô, cố ý làm trái. Những hoạt động phạm tội của Cờ và đồng bọn lại được Trần Cao Tưởng (Phó phòng tài vụ) bao che, nên hiện tượng vi phạm kéo dài, gây thiệt hại cho Nhà nước số tiền 92. Tổng kết trong 2 năm 1961 - 1962 đã phát hiện 55 vụ gây thiệt hại về kinh tế bắt 503 tên tội phạm [37, tr.
Ví dụ 2: Vụ Trần Công Khanh cố ý làm sai chế độ quản lý kinh tế tài chính của Nhà nước.