Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI BẮT, GIỮ HOẶC GIAM NGƯỜI TRÁI PHÁP LUẬT 1. KHÁI NIỆM QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN, QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ VÀ QUYỀN TỰ DO THÂN THỂ Các tội xâm phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân nói chung, tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật nói riêng có khách thể xâm hại là quyền con người, quyền công dân. Cụ thể, tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật xâm hại tới quyền tự do thân thể của con người. Vì vậy, tìm hiểu các vấn đề quyền con người, quyền công dân, quyền tự do, dân chủ và quyền tự do thân thể là cơ sở để luận giải về tội phạm này dưới góc độ lý luận.
Khái niệm quyền con người và quyền công dân Quyền con người hay nhân quyền, dưới góc độ chung nhất được hiểu là những quyền tự nhiên vốn có của con người. Tuy nhiên, cho đến nay chúng ta khó có thể tìm thấy một định nghĩa mang ý nghĩa kinh điển nào về quyền con người giống như cách làm thông thường đối với nhiều khái niệm khác. Chúng ta thường chỉ thấy các định nghĩa liệt kê về nội dung quyền con người kiểu như Hiến pháp 1791 của Pháp - quyền con người - đó là "quyền tự do, sở hữu, được an toàn và chống lại áp bức" hay Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776 - quyền con người - đó là "các quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Ý thức về nhân quyền và việc bảo vệ quyền con người là một quá trình lịch sử lâu dài gắn với lịch sử phát triển của loài người và sự nghiệp đấu tranh giải phóng con người qua các hình thái kinh tế - xã hội, các giai đoạn đấu tranh giai cấp khác nhau, qua đó quyền con người dần trở thành giá trị cao quý chung của nhân loại.
Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ, người nô lệ không được coi là con người, không có và không được thừa nhận các quyền con 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người. Chế độ phong kiến so với chế độ nô lệ đã là một bước tiến trong việc giành lại quyền tự do và giải phóng con người. Con người trong xã hội phong kiến ở một chừng mực nhất định đã được giải phóng, từ người nô lệ trở thành người tự do, nhưng vẫn nằm trong mối lệ thuộc với những ông chủ cũ của mình về nhiều mặt, đặc biệt là trong quan hệ kinh tế. Chỉ đến giai cấp tư sản là người đầu tiên nêu ngọn cờ nhân quyền, biết lợi dụng các tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, công lý, vốn là yêu cầu bức thiết của nhân dân lao động, tuyệt đối hóa tự do cá nhân, nhấn mạnh yếu tố cá nhân trong khái niệm quyền con người.
Tuy vậy, giai cấp tư sản chỉ tập trung nhấn mạnh quyền dân sự, chính trị, coi nhẹ quyền kinh tế, văn hóa, xã hội là cơ sở và điều kiện quan trọng để người lao động thoát khỏi đói nghèo và bị bóc lột. Chỉ khi đến Cách mạng tháng Mười Nga thành công, đã tạo nên một phạm trù mới về quyền con người: đó là các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội. Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước xã hội chủ nghĩa đã đi đầu trong việc nêu bật các quyền dân tộc cơ bản như bộ phận thiết yếu của các quyền tập thể, đưa ra cách đề cập toàn diện và biện chứng hơn về nhân quyền [5]. Ý tưởng ban đầu về quyền con người với tư cách là các giá trị nhân phẩm của con người đã có từ xa xưa trong lịch sử của nhân loại trong các nền văn hóa và tôn giáo.
Khái niệm quyền con người với bản chất là các quyền tự nhiên của con người có nguồn gốc từ thời Hy Lạp cổ ở các nhà triết học ngụy biện như Ăngtiphôn, Ankiđan. Ở châu Âu, kể từ thời Phục hưng trở đi, tư tưởng về quyền tự nhiên ngày càng trở nên phổ biến. Những đại biểu xuất sắc là Lôccơ (Anh), Rútxô (Pháp), Xpinôda (Hà lan), I. Can tơ, Pruphenđóocphơ (Đức), Jepphécxơn (Mỹ) [15, tr.
Mặc dù, khái niệm về quyền con người hiện đại chủ yếu bắt nguồn từ châu Âu nhưng ngày nay cần khẳng định rằng những khái niệm cơ bản của quyền con người về tự do và công bằng xã hội có tính chất phổ biến trên toàn thế giới. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thể hiện một cách tiêu biểu nhất nội dung quyền con người là hai văn bản nổi tiếng: Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776; Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789. Lời tuyên bố trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 đã mãi mãi đi vào lịch sử phát triển của khái niệm nhân quyền trên thế giới: Những chân lý sau đây đã được chúng tôi công nhận như những sự thật hiển nhiên là tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng; tạo hóa đã cho họ các quyền không thể thay thế được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc. Tuy nhiên, khái niệm quyền con người phổ biến cho tất cả loài người mới được thừa nhận rộng rãi sau nỗi kinh hoàng của chiến tranh thế giới lần thứ hai - thời điểm các vi phạm quyền con người diễn ra với quy mô lớn hơn bao giờ hết - các quốc gia đã nhất trí thông qua Tuyên ngôn thế giới về quyền con người của Liên hợp quốc năm 1948.
Với sự gia tăng nhanh chóng về số lượng thành viên của Liên hợp quốc, phần lớn nội dung của Tuyên ngôn đã trở thành những nguyên tắc chung, tập quán luật quốc tế về quyền con người trên toàn cầu. Khái niệm quyền con người tiếp tục được cụ thể hóa ở các công ước sau đó của Liên hợp quốc như: Công ước về việc ngăn cấm và trừng phạt tội diệt chủng năm 1948; Công ước quốc tế về việc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối với phụ nữ năm 1979; Công ước về chống tra tấn và trừng phạt hay đối xử tàn bạo, vô nhân đạo, hạ nhục năm 1984; Công ước về Quyền trẻ em năm 1989; v. Khái niệm về quyền con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người của Liên hợp quốc năm 1948 và các công ước này là khái niệm về nhân phẩm vốn có của tất cả các thành viên trong gia đình nhân loại. Theo đó, cốt lõi của khái niệm quyền con người là khát vọng bảo vệ nhân phẩm của tất cả con người.
Hay "điều cốt yếu là các quyền con người phải được bảo vệ bằng pháp luật" [54] và cho đến ngày hôm nay thì: 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việc bảo vệ các quyền con người đã và vẫn đang là vấn đề trung tâm và có ý nghĩa thời đại của hành tinh chúng ta, vì nó không chỉ là vấn đề muôn thuở mang tính lịch sử từ bao đời nay, mà còn mang tính thời sự quốc tế, không những là mục tiêu cơ bản trong cuộc đấu tranh của các dân tộc vì hòa bình, tự do, dân chủ và công lý, mà còn là mối quan tâm thường xuyên của nhân loại tiến bộ trên toàn trái đất [8, tr. Trong khoa học pháp lý, đã tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về quyền con người, mặc dù nội hàm các khái niệm đó về cơ bản là thống nhất với nhau: PGS. Đinh Văn Mậu viết: Quyền tự nhiên của con người được pháp luật ghi nhận, bắt buộc hoặc ngăn cấm thì mới trở thành các quyền của con người. Không có pháp luật thì không có quyền.
Quyền của con người xuất phát từ quyền tự nhiên nhưng không phải mọi quyền tự nhiên đều là quyền của con người mà chỉ những quyền thuộc phạm vi, sự điều chỉnh của pháp luật mới là quyền thực sự và được Nhà nước đảm bảo trong thực tiễn [35, tr. Nguyễn Đăng Dung viết:. Quyền con người đó là những quyền cơ bản nhất của con người, được có một cách tự nhiên gắn bó mật thiết với con người - một động vật cao cấp có lý trí, và có tình cảm làm cho con người khác với các động vật khác, mà Nhà nước thành lập với một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của mình là phải bảo vệ các quyền đó. Chúng tôi tán thành với cách lập luận của tác giả khi nhấn mạnh sâu hơn về nội dung này: Vấn đề nhân quyền luôn luôn đi kèm và không thể thiếu được vấn đề bảo vệ nhân quyền.
Một mặt phải chỉ ra, tức là ghi nhận cho 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com rõ và đầy đủ tất cả các quyền con người có thể có, để con người cần phải biết mà có thể thụ hưởng và ngăn chặn ngay sự vi phạm chính những quy định quyền con người đã được ghi nhận ra từ bất kể chủ thể nào. Một mặt khác, phải ngăn chặn ngay từ trước sự có thể vi phạm đến quyền con người của một chủ thể quan trọng nhất đó là Nhà nước; một khi các quyền đó bị vi phạm cần phải có các biện pháp trừng trị những chủ thể vi phạm và cũng cần có những biện pháp khôi phục lại những quyền đó, đồng thời cũng nhấn mạnh nghĩa vụ, trách nhiệm phải bảo vệ nhân quyền từ phía Nhà nước. Trần Ngọc Đường cho rằng: "Quan niệm nhân quyền vừa khẳng định cơ sở tự nhiên và giá trị nhân loại của quyền, đồng thời cũng thừa nhận thuộc tính xã hội - chính trị và lịch sử cụ thể của quyền con người thuộc một quốc gia, một dân tộc" [24, tr. Trần Quang Tiệp quan niệm: "Quyền con người là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ con người mới được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định" [49, tr.
14], và tác giả chỉ ra các đặc điểm: Quyền con người vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội; mang tính phổ biến nhưng lại mang tính đặc thù; mang tính giai cấp, đồng thời mang tính nhân loại và thống nhất với quyền dân tộc cơ bản. Nội dung của quyền con người được ra, xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn cách mạng, từ bản chất của chế độ ta. Quyền con người gắn với quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi của chủ quyền quốc gia. Tác giả Trịnh Tiến Việt định nghĩa ngắn gọn và giải thích cụ thể: Quyền con người được hiểu là các quyền mà con người vẫn có và chỉ con người mới có.