Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn tổ chức, hoạt động thư viện Trường Đại học Hải Phòng trước yêu cầu đổi mới giáo dục đại học Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động thư viện Trường Đại học Hải Phòng Chương 3: Các giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động thư viện Trường Đại học Hải Phòng 12 Chuong 1 CO SO LY LUAN VA THUC TIEN TO CHUC, HOAT DONG THU VIEN TẠI TRƯỜNG DAI HQC HAI PHONG TRƯỚC YEU CAU DOI MOI GIAO DUC DAI HOC 1. Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động 1. Khái niệm về tổ chức và tổ chức thư viện 1. Khái niệm về tổ chức Hiểu theo nghĩa danh từ: “Một tô chức là một tập hợp nhiều người có chủ định nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể”.
Ví dụ: Trường học, bệnh viện, doanh nghiệp.được coi là các tổ chức. Các tổ chức này có chung các đặc điểm như: Mục đích riêng; Cấu trúc rõ ràng và Một tập hợp nhiều người. Các đặc điểm này được lý giải như sau: Mỗi tổ chức phải có một mục dich riêng. Mục đích này lại được thể hiện một cách cụ thể dưới dạng một mục tiêu hay nhóm các mục tiêu mà tổ chức đó đặt ra.Tiếp theo, mỗi tổ chức phải là một tập hợp nhiều người để có thể hoàn thành được mục tiêu chung của tổ chức.
Cuối cùng một tổ chức phải có một cấu trúc rõ rang dé các thành viên trong tô chức có thê thực hiện được nhiệm vụ hoặc công việc của mình. “Tổ chức là một đơn vị xã hội được điều phối một cách có ý thức, có phạm vi tương đối rõ ràng, hoạt động nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu chung (của tổ chức)” [2, tr.8] Như vậy, tuy các cách biểu đạt nội dung về khái niệm ““Tổ chức” khác nhau, nhưng bản chất không có sự khác biệt. Theo đó: Tổ chức là tập hợp của con người trong xã hội có phạm vi, chức năng, nhiệm vụ thẩm quyền, cơ cấu xác định, được hình thành và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định phù hợp với quy định pháp luật nhằm gắn kết con người với nhau bởi những mục đích xác định và hành động đề đạt đến mục tiêu chung [10] 13 1. Tổ chức thư viện Tổ chức thư viện cũng giống như các tổ chức khác đều mang 3 đặc trưng trên bao gồm : -Mục đích của thư viện là: Đáp ứng tối đa nhu cầu về thông tin mọi lúc, mọi nơi của người dùng tin vì sự tiến bộ xã hội, phát triển bền vững và phồn vinh của quốc gia.
Để thực hiện được mục đích này, Thư viện phải thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình. Tủy thuộc vào quy mộ, loại hình thư viện mà đặt ra chức năng, nhiệm vu cu thé. - Tập thể cán bộ thư viện bao gồm: đội ngũ cán bộ quản lý và nhân viên thừa hành. - Cấu trúc thư viện bao gồm các bộ phận, phòng ban dé thực hiện các chức năng, nhiệm vụ đã đề ra.
Thư viện cũng tùy thuộc vào quy mô, loại hình thư viện mà tổ chức ra các bộ phận, phòng ban.Ví dụ : Thư viện trường đại học có các phòng sau: Phòng bổ sung; phòng xử lý nghiệp vụ; phòng mượn sách về nhà; phòng đọc sách tại chỗ; phòng đọc báo, tạp chí; phòng khai thác mạng. Khái niệm “7 chức” trong lĩnh vực thông tin — thư viện được hiểu là sự đảm bảo sử dụng nguồn thông tin một cách hợp lý, tiết kiệm có hiệu quả. Tổ chức hoạt động thông tin — thư viện là nhằm thiết lập một cơ cấu thích hợp cho sự tồn tại và phát triển của thư viện đáp ứng với nhu cầu xã hội 1. Khái niệm về hoạt động và hoạt động thư viện 1.
Khái niệm về hoạt động Hoạt động là một phương pháp đặc thù của con người quan hệ với thế giới xung quanh nhằm cải tạo thế giới theo hướng phục vụ cho cuộc sống của mình. Trong mối quan hệ ấy, chủ thể của hoạt động 14 là con người, khách thể của hoạt động là những gì mà hoạt động tác động vào, qua đó tạo ra được sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu của chủ thể [27, tr.341] Điều này thể hiện ở nhiều lĩnh vực với các dạng hoạt động khác nhau, trong đó có lĩnh vực thông tin thư viện. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ học do Hoàng Phê chủ biên, khái niệm “/oạ động” được hiểu là tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội. Hoạt động thư viện Xuất hiện từ khi loài người có chữ viết và tồn tại để đáp ứng nhu cầu đọc của con người, thư viện có thể hiểu một cách khái quát là nơi tàng trữ và sử dụng tài liệu có tính chất tập thể và xã hội.
Như vậy hoạt động thư viện phải đảm bảo cả hai mặt và có mối quan hệ hữu cơ với nhau là tàng trữ tài liệu và tạo mọi điều kiện cho người đọc sử dụng tài liệu đó. Nói cách khác, “hoạt động thư viện” là quá trình thu thập tài liệu, xử lý, lưu trữ và phổ biến tài liệu cho người đọc [14] Trên cơ sở này, có thê xác định “/oạ động” thư viện là bao gồm tat ca các công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ có liên quan mật thiết với nhau về chuyên môn nghiệp vụ thông tin - thư viện như: Xây dựng và phát triển vốn tài liệu, tổ chức xử lý nghiệp vụ, tổ chức và bảo quản vốn tài liệu, xây dựng bộ máy tra cứu tin, tổ chức phục vụ nhu cầu tin của người dùng tin 1. Mỗi quan hệ giữa tổ chức và hoạt động Muốn hoạt động thuộc bất cứ lĩnh vực nào, trước tiên phải có tô chức. Công tác tổ chức là thực hiện việc lập kế hoạch làm việc, xác định mục tiêu và phân công công việc.Do đó, hai khái niệm “Hoạr động” và “Tổ chức " luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau và không thể tách rời, chúng luôn là 15 điều kiện cần và đủ của nhau.
Một tổ chức không thể tồn tại nếu thiếu hoạt động và ngược lại, hoạt động không thể thực hiện nếu thiếu tổ chức. Nói cách khác, không có tổ chức thì không thể hoàn thành chức năng, nhiệm vụ và đạt được mục tiêu đã đề ra của một hoạt động nhất định. Mối quan hệ giữa “7ổ chức" và “Hoạt động" nhìn từ góc độ triết học được hiểu là hình thức và nội dung. Trong đó, “Zổ chức" là hình thức còn “#oạr động” là nội dung.
Theo phương pháp chuyên gia, PGS.TS Nguyễn Thị Lan Thanh cho rằng: Khi ta nói “Tổ chức” và “Hoạt động” của một cơ quan nào đó trong đó có thư ta phải hiểu là đang đề âp đến các đặc trưng và các hoạt động của tô chức đó. Cụ thê là ‘ap đến 3 đặc trưng của thư viện bao gồm: mục. đích của thư việt cơ cal tổ chức của thư viện và đội ngũ cán bộ thư viện. Hoạt động chuyên môn của thư viện bao gồm: Xây dựng va phát triển vốn tài liệu, xử lý tài liệu, tổ chức và bảo quản vốn tài liệu, xây dựng bộ máy tra cứu tin, tổ chức phục vụ nhu cầu tin của người dùng tin 1.
Những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động thư viện 1. Yếu tố bên ngoài © Luật pháp, chính sách Cũng như các loại hình hoạt động xã hội khác, quản lý thư viện bằng pháp luật là một đặc trưng chung của các quốc gia trên thế giới. Nước ta, luật pháp được coi là công cụ dùng để bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân và mọi tầng lớp xã hội. Để tăng cường sự quản lý của Nhà nước, đảm bảo cho sự nghiệp thư viện Việt Nam phát triển theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước, phù hợp và tiến kịp với xu thế chung của thế giới, Nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh Thư viện (28/12/2000).
* Pháp lệnh thư viện được ban hành có ý nghĩa hết sức to lớn, là cơ sở pháp lý quan trọng để đảm bảo cho sự nghiệp thư viện Việt Nam phát triển 16 theo hướng hiện đại hóa, đáp ứng với yêu cầu xây dựng đất nước trong thời đại mới”.44 - 47] Bên cạnh đó, đối với các Thư viện đại học. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ra quyết định số 13/2008/QĐ-BVHTTDL về việc ban hành Quy chế mẫu tổ chức và hoạt động thư viện trường đại học. Trong văn ban nay, thư viện đại học đã được khẳng định rất rõ vai trò và vị trí trong cơ cầu tổ chức của trường đại học: “Thư viện trường đại học là một đơn vị trong cơ cấu tổ chức của trường đại học”. ® Cơ chế quản lý: Cơ chế quản lý được coi là nhân tố khách quan quy định nội dung của các mối quan hệ giữa các cấp quản lý hành chính nhà nước về thư viện.
Theo cơ chế quản lý thư viện thì phân cấp quản lý được thực hiện là nhằm mục đích làm cho hoạt động quản lý đạt hiệu quả tối đa và có tác dụng nâng cao ý thức trách nhiệm cho chính người quản lý: “Quản lý của nhà nước đối với sự nghiệp thư viện là sử dụng quyền lực của nhà nước tác động có mục dich lên các thư viện/ thư viện đại học đề tổ chức và điều hành hoạt động của các cơ quan này nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà nhà nước giao phó”[24, tr.249] Các văn bản quy phạm pháp luật về thư viện đã quy định những vắt về tô chức và hoạt động thư viện: Khẳng định vị trí vai trò quan trọng không, thể thiếu của thư viện trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Đề ra định hướng phát triển thư viện trong thoi ky CNH — HDH. © Méi trường tự nhiên xã hội Sự phát triển bền vững của môi trường có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thư viện phát triển.Thư viện sẽ trở thành nhân tố 17 quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của môi trường xã hội. Môi trường tự nhiên xã hội đã trở thành một yếu tố quan trọng không thể tách rời trong quá trình phát triển sự nghiệp thư viện nói chung và thư viện đại học nói riêng.
Trong một xã hội nói chung, sẽ có các quan điểm khác nhau về thư viện, đây có thể coi là sự tác động rất lớn tới hoạt động thư viện.