Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG AN XÃ, THỊ TRẤN 1. Vị trí của chính quyền xã, thị trấn trong bộ máy Nhà nƣớc và yêu cầu về xây dựng chính quyền xã, thị trấn Trong lịch sử nƣớc ta, trải qua các triều đại, từ thời kỳ đô hộ của phong kiến phƣơng Bắc đến chế độ cai trị của thực dân Pháp, tuy tên gọi và tổ chức bộ máy ở mỗi vùng, mỗi miền, mỗi thời kỳ có khác nhau, nhƣng đều có điểm chung nhất là: Làng, xã Việt Nam luôn là một cấp trong hệ thống tổ chức bộ máy hành chính Nhà nƣớc, vừa thực thi các nhiệm vụ có tính quản lý hành chính nhà nƣớc do cấp trên giao, vừa chăm lo công việc tự quản trong các cộng đồng dân cƣ. Chính quyền xã có con dấu, có tài sản riêng. Nhà nƣớc công nhận và bổ nhiệm những ngƣời thay mặt Nhà nƣớc quản lý xã hội nông thôn.
Trƣớc đây việc duy trì an ninh, trật tự ở nông thôn kể cả việc giải quyết các vụ án hình sự, chính quyền cơ sở luôn đƣợc xác định là cấp thụ lý đầu tiên, vì vậy dân không đƣợc thƣa kiện vƣợt cấp khi vụ kiện chƣa qua cấp cơ sở hoà giải. Hiến pháp đầu tiên của nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hoà (năm 1946) tại Điều 57 đã quy định:" Nước Việt Nam về phương diện hành chính có 3 bộ: Bắc, Trung, Nam. Mỗi bộ chia thành tỉnh, mỗi tỉnh chia thành huyện, mỗi huyện chia thành xã". Điều 58 khẳng định"ở tỉnh, thành phố, thị xã và xã có Hội đồng nhân dân do đầu phiếu phổ thông và trực tiếp bầu ra" [13].
Nhƣ vậy vị trí chính quyền xã đã đƣợc khẳng định và phát huy ngay từ những ngày đầu thành lập nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hoà. Từ đó đến nay Đảng và Nhà nƣớc ta không ngừng củng cố, tăng cƣờng hệ thống các cấp chính quyền nói chung, hệ thống chính trị cơ sở, chính quyền xã nói riêng. Hiện nay, chính quyền xã ở nƣớc ta có 9.583 đơn vị, chiếm 89,1% tổng số đơn vị chính quyền 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.115 xã, phƣờng, thị trấn) [1]. Năng lực và hiệu quả hoạt động của chính quyền xã tác động trực tiếp đến việc thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, là nơi tổ chức thực hiện và đƣa các chủ trƣơng, chính sách, pháp luật vào cuộc sống; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm cho khối đại đoàn kết toàn dân đƣợc thiết lập ngay từ cơ sở; bảo đảm cho sự phát triển và bình an của 76,5% dân số nƣớc ta trên địa bàn chiến lƣợc và rộng lớn ở nông thôn, là cơ sở cho sự bình yên của đất nƣớc (hiện nay có trên 60 triệu nông dân đang làm ăn, sinh sống ở các làng, xã).
Theo quy định của Điều 114 Hiến pháp năm 2013: Uỷ ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phƣơng do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng, chịu trách nhiệm trƣớc Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nƣớc cấp trên [16, Điều 114]. Theo quy định này, UBND do HĐND bầu, có nhiệm kỳ theo nhiệm kỳ của HĐND; là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng. Tính chất chấp hành của UBND đƣợc thể hệ thông qua việc chấp hành các nghị quyết của HĐND và các văn bản của cơ quan cấp trên. Đồng thời UBND còn là cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng chịu trách nhiệm tổ chức quản lý hành chính (QLHC) nhà nƣớc ở địa phƣơng.
Các cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng có vai trò rất quan trọng. Cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng đƣợc tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phụ thuộc hai chiều: Phụ thuộc theo chiều dọc và phụ thuộc theo chiều ngang. Điều này có nghĩa là, Uỷ ban nhân dân các cấp vừa phụ thuộc cơ quan hành chính nhà nƣớc có thẩm quyền chung ở cấp trên vừa phụ thuộc vào cơ quan quyền lực cùng cấp. Các cơ quan hành chính nhà nƣớc có thẩm quyền chuyên môn vừa phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nƣớc có thẩm quyền 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chuyên môn cấp trên, vừa phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nƣớc có thẩm quyền chung cùng cấp.
Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn là cơ quan chấp hành, cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng, chịu trách nhiệm trƣớc Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nƣớc cấp trên, là cấp thấp nhất và có một vai trò quan trọng trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nƣớc. Cơ quan hành chính nhà nƣớc đƣợc thành lập để thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc và là một bộ phận của của bộ máy nhà nƣớc. Cũng nhƣ các cơ quan khác trong bộ máy nhà nƣớc, cơ quan hành chính nhà nƣớc có cơ cấu tổ chức riêng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của hiến pháp, luật, pháp lệnh và những văn bản pháp luật khác. Theo nguyên tắc bộ máy nhà nƣớc thì cơ quan quản lý hành chính nhà nƣớc đƣợc tổ chức theo một hệ thống thống nhất từ trung ƣơng đến địa phƣơng và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
Khi tham gia vào các quan hệ pháp luật cơ quan hành chính nhà nƣớc có tƣ cách chủ thể nhân danh nhà nƣớc đƣợc sử dụng quyền lực nhà nƣớc và khi cần thiết có thể áp dụng các biện pháp cƣỡng chế hành chính. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND xã, thị trấn đƣợc xác định dựa vào vị trí, sự phân công quyền lực trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nƣớc. Theo quy định của pháp luật hiện hành, UBND xã, thị trấn chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nƣớc cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp nhằm bảo đảm thực hiện chủ trƣơng, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn; thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc ở địa phƣơng, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nƣớc từ trung ƣơng tới cơ sở. Với chức năng nêu trên Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn là chủ thể xây dựng, thực hiện các nhiệm vụ trên các 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lĩnh vực kinh tế, giao thông vận tải.
giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá và thể dục thể thao; quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và thi hành pháp luật ở địa phƣơng. Trong việc thi hành pháp luật, Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn là tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật; giải quyết các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật; tổ chức tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân theo thẩm quyền; tổ chức thực hiện hoặc phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc thi hành án theo quy định của pháp luật; tổ chức thực hiện các quyết định về xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Khái niệm, vị trí, vai trò và chức năng, nhiệm vụ của Công an xã, thị trấn 1. Khái niệm Công an xã, thị trấn Để thực hiện đƣợc chức năng bảo đảm ANCT, trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật, xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ ở xã, thị trấn phải xây dựng lực lƣợng CAXTT hoạt động bán chuyên trách.
Từ điển Bách khoa CAND Việt Nam cũng ghi: Công an xã là lực lƣợng vũ trang bán chuyên trách đƣợc tổ chức theo đơn vị hành chính cấp xã ở những nơi không bố trí lực lƣợng công an chính quy, có trách nhiệm tham mƣu cho cấp uỷ Đảng và UBND xã về công tác đảm bảo ANTT trên địa bàn xã và thực hiện việc quản lý Nhà nƣớc về ANTT ở xã [6]. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu CAXTT là lực lƣợng vũ trang bán chuyên trách, đƣợc tổ chức theo một mô hình thống nhất ở địa bàn xã, thị trấn nhằm đảm bảo ANTT, làm nòng cốt thực hiện phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ và tiến hành các công tác quản lý Nhà nƣớc về ANTT ở cơ sở. Thành phần của CAXTT gồm Trƣởng CAXTT, Phó CAXTT và CAV (cũng có thể gọi là Ban CAXTT). Vị trí, vai trò của Công an xã, thị trấn Quá trình ra đời và phát triển của lực lƣợng CAXTT đƣợc xác định gắn liền với sự ra đời của lực lƣợng vũ trang cách mạng.
Trong cao trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh (1930 – 1931) "Đội tự vệ đỏ” đƣợc thành lập để chống khủng bố, trấn áp phản cách mạng, giữ gìn an ninh trật tự ở nông thôn, làm nòng cốt trong các cuộc đấu tranh của quần chúng và đây cũng chính là lực lƣợng tiền thân của các lực lƣợng vũ trang cách mạng Việt Nam nói chung và lực lƣợng CAXTT nói riêng. Cách mạng tháng Tám thành công, để từng bƣớc củng cố tổ chức bộ máy chính quyền các cấp, tổ chức và hoạt động của lực lƣợng CAXTT cũng đã hình thành: "Công việc trị an ở cấp xã do một uỷ viên trong Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính xã phụ trách" [3]. Ngày 10/10/1950, Bộ Nội vụ ban hành Nghị định số 438/NV-NĐ, Điều 2 quy định: Thành lập tại mỗi xã trong toàn quốc một Ban Công an gọi là Ban CAXTT, nằm trong hệ thống tổ chức Việt Nam Công an vụ, đặt dƣới quyền điều khiển trực tiếp của Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính xã, dƣới quyền điều khiển chuyên môn của Ty Công an tỉnh và Quận Công an huyện nếu có uỷ quyền của Ty Công an tỉnh [2]. Bắt đầu từ thời điểm này, CAXTT có tổ chức, bộ máy ổn định trong hệ thống cơ quan quản lý hành chính nhà nƣớc ở cơ sở, chức năng nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng là giữ gìn an ninh, trật tự ở cơ sở.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vai trò nòng cốt của CAXTT đƣợc thể hiện thông qua phát động phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ và trong phòng ngừa, đấu tranh với các loại tội phạm. Nhằm huy động sức mạnh to lớn của nhân dân trong phát hiện, đấu tranh với các loại tội phạm, các vi phạm khác nhằm đảm bảo ANTT ở từng vùng, miền và trên toàn quốc, xây dựng, củng cố thế trận an ninh nhân dân.