Chương 1: Cơ sở lý luận vể tổ chức thực thi chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn của ngân hàng trung ương. Chương 2: Phân tích thực trạng tổ chức thực thi chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 7 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1.
Nông nghiệp, nông thôn và tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn 1. Nông nghiệp, nông thôn 1. Khái niệm nông nghiệp Là phân ngành trong hệ thống ngành kinh tế quốc dân, bao gồm các lĩnh vực nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản. Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp.
Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm như lương thực, thực phẩm. để thoả mãn các nhu cầu của mình. Nông nghiệp theo nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp. Như vậy, nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên.
Những điều kiện tự nhiên như đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, bức xạ mặt trời. trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi. Nông nghiệp cũng là ngành sản xuất có năng suất lao động thấp, vì đây là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên; là ngành sản xuất mà việc ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ gặp rất nhiều khó khăn. Ngoài ra sản xuất nông nghiệp thường gắn liền với những phương pháp canh tác, lề thói, tập quán.
đã có từ hàng nghìn năm nay. Ở các nước nghèo, nông nghiệp thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong GDP và thu hút một bộ phận quan trọng lao động xã hội. Khái niệm về nông thôn - Hiện nay trên thế giới vẫn chưa có định nghĩa chuẩn xác về nông thôn, còn nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 8 phát triển của cơ cở hạ tầng.
Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn vì cho rằng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường so với đô thị là thấp hơn. Cũng có ý kiến nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số lượng dân cư trong vùng để xác định. Theo quan điểm này, vùng nông thôn thường có số dân và mật độ dân thấp hơn vùng thành thị. - Như vậy, khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới.
Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản lý, “nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa- xã hội và môi trường trong một thể chế nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác”. Tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn Tín dụng là giao dịch tài sản giữa tổ chức tín dụng với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó tổ chức tín dụng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho tổ chức tín dụng khi đến hạn thanh toán. Tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn là hình thức tín dụng giữa các tổ chức tín dụng với bên đi vay là cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh trên địa bàn và ngoài địa bàn nông thôn tham gia sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp.
Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 9 1. Khái niệm chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn bao gồm một số chính sách, biện pháp của Nhà nước để tạo điều kiện đối với tổ chức, cá nhân vay vốn phát triển lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, đồng thời khuyến khích các tổ chức tín dụng đẩy mạnh cho vay đối với lĩnh vực này, nhằm góp phần thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới và từng bước nâng cao đời sống của nhân dân. Đối tượng của chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn bao gồm: - Bên cho vay là các tổ chức tín dụng bao gồm: NHTM, tổ chức tài chính quy mô nhỏ, các ngân hàng và tổ chức tài chính được Chính phủ thành lập để thực hiện việc cho vay chính sách. - Bên đi vay là tổ chức, cá nhân bao gồm: hộ gia đình; cá nhân; chủ trang trại; các hợp tác xã, tổ hợp tác trên địa bàn nông thôn; các tổ chức và cá nhân cung ứng các dịch vụ trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ tiêu thụ và xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản; các doanh nghiệp chế biến các sản phẩm từ nông nghiệp hoặc kinh doanh trong các lĩnh vực công nghiêp, thương mại, cung ứng dịch vụ phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn.
Mục tiêu và nguyên tắc của chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn a. Mục tiêu của chính sách - Gia tăng số lượng các tổ chức tín dụng cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. - Gia tăng dư nợ cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. - Giảm tỷ lệ nợ xấu trong lĩnh vực cho vay nông nghiệp, nông thôn.
- Khuyến khích các tổ chức tín dụng mở chi nhánh và phòng giao dịch tại khu vực nông thôn. Nguyên tắc thực hiện mục tiêu của chính sách Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 10 NHTW thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo các nguyên tắc cơ bản sau đây: Thứ nhất, hướng nguồn vốn tín dụng vào lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn, hỗ trợ các tổ chức tín dụng và khách hàng sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Thứ hai, các tổ chức tín dụng đảm bảo thực hiện cho khách hàng vay theo đúng đối tượng, lĩnh vực cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Thứ ba, khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng với các tổ chức tín dụng.
Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Thứ tự ưu tiên của các nguyên tắc trên có thể thay đổi tùy thuộc vào mục tiêu quản lý của mỗi NHTW. Nội dung của chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn - Quy định về các lĩnh vực cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn NHTW quy định các lĩnh vực cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn bao gồm: cho vay chi phí sản xuất trong các ngành trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản; cho vay phát triển ngành nghề và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; sản xuất công nghiệp, thương mại và cung ứng dịch vụ phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn. Căn cứ vào tình hình kinh tế và mục tiêu quản lý trong từng thời kỳ, NHTW sẽ quy định cụ thể nội dung các lĩnh vực cho vay và mức độ ưu tiên trong từng lĩnh vực.
- Quy định về nguồn vốn cho vay Nguồn vốn cho vay của các tổ chức tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chủ yếu dựa trên nguồn vốn tự có và vốn huy động của các tổ chức tín dụng. Ngoài ra, còn có nguồn vốn hỗ trợ của NHTW qua việc sử dụng các công cụ điều hành chính sách tiền tệ, nguồn vốn ủy thác của Chính phủ và nguồn vốn vay, tài trợ của tổ chức cá nhân trong và ngoài nước. - Quy định về cơ chế đảm bảo tiền vay Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 11 Tổ chức tín dụng xem xét cho khách hàng vay trên cơ sở có bảo đảm hoặc không có bảo đảm bằng tài sản theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào đối tượng vay vốn, số tiền vay và mục đích sử dụng khoản vay, các tổ chức tín dụng xem xét quyết định cho khách hàng vay theo hình thức có bảo đảm hoặc không có tài sản bảo đảm.
Do đối tượng vay vốn trong nông nghiệp, nông thôn phần lớn là nông dân nên các khoản vay phần lớn là vay không có tài sản bảo đảm. - Quy định về thời hạn cho vay Tổ chức tín dụng và khách hàng thường căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án, phương án sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn cho vay của tổ chức tín dụng để thỏa thuận thời hạn cho vay đối với khách hàng. Thời hạn cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chủ yếu là các khoản cho vay ngắn hạn. Các khoản cho vay trung và dài hạn thường chiếm tỷ trọng thấp.
- Quy định về lãi suất cho vay Lãi suất cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn do khách hàng và tổ chức tín dụng thỏa thuận phù hợp với quy định trong từng thời kỳ. Đối với khoản vay thực hiện theo chỉ đạo của Chính phủ hoặc do tổ chức, cá nhân ủy thác thì mức lãi suất và phương thức hỗ trợ thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc theo thỏa thuận với bên ủy thác. Tổ chức thực thi chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn của ngân hàng trung ương 1. Khái niệm tổ chức thực thi chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn của ngân hàng trung ương "Tổ chức thực thi chính sách kinh tế - xã hội là quá trình biến các chính sách thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máy Nhà nước, nhằm hiện thực hóa những mục tiêu mà chính sách đã đề ra".