Chương 1. Cơ sở lý luận của tổ chức thực hiện pháp luật về công chức. Thực trạng về tổ chức thực hiện pháp luật về công chức trên địa bàn tỉnh Hoà Bình. Quan điểm và giải pháp để bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về công chức ở tỉnh Hoà Bình.
9 Chƣơng I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨC 1. Khái quát chung tổ chức thực hiện pháp luật về công chức 1. Khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật về công chức 1. Công chức Khái niệm công chức ở Việt Nam được hình thành và có tên gọi từ năm 1950 tại Sắc lệnh số 76/SL, ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà ban hành Quy chế công chức2, sau đó đến Nghị định số 169- HĐBT ngày 25/5/1991 Hội đồng Bộ trưởng về công chức nhà nước3.
Ở giai đoạn này, khái niệm về công chức đã được hình thành nhưng do bộ máy nhà nước chưa được hoàn thiện, chưa phân định rõ chức năng quản lý nhà nước và hoạt động sự nghiệp, phục vụ quản lý nhà nước; do vậy công chức được hiểu đơn giản là người Việt Nam được tuyển vào làm việc trong cơ quan nhà nước (không phân biệt cơ quan hành chính hay đơn vị sự nghiệp), hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Có thể thấy các quy định về công chức ở thời điểm này mới được hình thành, hiệu lực thi hành chưa cao, các quy định về quản lý công chức còn chưa rõ ràng, nhiều bất cập khi tổ chức thực hiện. Để tạo cơ sở pháp lý cho công tác quản lý nhà nước với cán bộ, công chức nói chung và công chức nói riêng, năm 1998 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức (sau đó được sửa đổi, bổ sung vào năm 2000 và năm 2003). 2 Sắc lệnh số 76/SL, ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà ban hành Quy chế công chức 3 Nghị định số 169-HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về công chức nhà nước 10 Theo Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998, khái niệm về công chức đã được quy định một cách chi tiết, cụ thể hơn để có thể nhận biết được công chức làm việc trong những cơ quan nào.
Giai đoạn này, các quy định về quản lý công chức đã được ban hành cụ thể hơn góp phần tích cực trong công tác quản lý công chức nhưng cũng bộc lộ không ít những bất cập, hạn chế; đặc biệt, khái niệm về công chức chưa rạch ròi đâu là cán bộ, đâu là công chức và trong khi chưa có khái niệm về viên chức, thì những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập cũng được hiểu là công chức; các quy định về quản lý công chức cũng chưa đầy đủ, thậm chí còn mâu thuẫn, vướng mắc, khó thực hiện trong thực tiễn. Tổng kết 10 năm thực hiện Pháp lệnh cán bộ, công chức 1998, nhận thấy rõ những hạn chế, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện. Ngày 13/11/2008 Quốc hội đã ban hành Luật Cán bộ, công chức, theo đó khái niệm về công chức đã rõ ràng hơn so với Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 và phân biệt rõ công chức cấp tỉnh, cấp huyện với công chức cấp xã. Tuy nhiên, Luật cán bộ, công chức năm 2008 chưa phân định rõ quy định về công chức để quản lý biên chế hành chính; việc quy định công chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập, Doanh nghiệp Nhà nước đã gây khó khăn cho công tác quản lý, giải quyết chế độ, chính sách.
Chính vì vậy, năm 2019 Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật viên chức, theo đó khái niệm về công chức (từ cấp huyện trở lên) được hiểu như sau: - Về đối tượng: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm. - Về nơi làm việc: Cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong lực lượng vũ trang mà không 11 phải là chuyên trách, chuyên nghiệp (sĩ quan, hạ sĩ quan,.); - Biên chế và tiền lương: Trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước4. Như vậy, khái niệm về công chức theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật viên chức năm 2019 là một khái niệm hoàn thiện và chính xác nhất; đã phân định rõ giữa công chức và viên chức, bởi theo khái niệm trên, công chức không làm việc trong đơn vị sự nghiệp và chỉ có công chức mới nằm trong biên chế (được hiểu là biên chế cơ quan hành chính). Pháp luật về công chức Pháp luật là một hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước đặt ra, thể hiện ý chí của Nhà nước, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Như vậy có thể hiểu, pháp luật về một lĩnh vực nào đó trong đời sống xã hội là một hệ thống các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các hoạt động của lĩnh vực đó, nhằm bắt buộc các tổ chức, cá nhân có liên quan phải thực hiện theo các quy định mà nhà nước đặt ra. Cũng như các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, đối với công chức, nhà nước có hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng các văn bản pháp luật để quy định, hướng dẫn, thực hiện các nội dung về tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, thực hiện chế độ chính sách,… đối với công chức một cách thống nhất, chặt chẽ nhằm đáp ứng các yêu cầu thực tiễn. 4 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật viên chức năm 2019 12 Để phục vụ cho nghiên cứu của luận văn, với cách tiếp cận nêu trên trên, tác giả quan niệm: “Pháp luật về công chức là tổng hợp các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh hoạt động của các tổ chức cá nhân có liên quan đến công chức, nhằm nâng cao chất lượng thực thi công vụ của đội ngũ công chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước”. Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức Xây dựng, ban hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật là hai hoạt động có quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung cho nhau và ảnh hưởng lẫn nhau, là hai quá trình chuyển từ hành vi thực tiễn thành các quy tắc xử sự chung và từ quy tắc xử sự đến hành vi thực tiễn của các chủ thể.
Hiệu quả của việc tổ chức thực hiện pháp luật phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Hoạt động giám sát của các cơ quan lập pháp, tư pháp; mức độ tuân thủ và chấp hành pháp luật của đối tượng bị pháp luật điều chỉnh; hoạt động phản biện, phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của các tổ chức chính trị - xã hội, người dân, doanh nghiệp,…; Tổ chức thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích của cơ quan nhà nước, sử dụng các quy định của pháp luật để điều chỉnh các hành vi của đối tượng điều chỉnh, nhằm đạt được mục tiêu quản lý của nhà nước. Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức là hoạt động có mục đích của các cơ quan quản lý trong lĩnh vực công vụ, công chức, bảo đảm cho những quy định của pháp luật về công chức đi vào cuộc sống thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng hoạt động công vụ của đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu quản lý. 13 Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức đạt hiệu quả góp phần sắp xếp tổ chức bộ máy từ Trung ương đến địa phương đảm bảo tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, đồng thời xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước. Từ những phân tích ở trên, tác giả quan niệm: “Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức là hoạt động có mục đích của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhằm đảm bảo để các quy định của pháp luật về công chức được áp dụng vào thực tiễn một cách đầy đủ và có hiệu quả nhất”.
Đặc điểm tổ chức thực hiện pháp luật về công chức Thứ nhất, tổ chức thực hiện pháp luật về công chức do nhiều chủ thể khác nhau tiến hành với nhiều cách thức, trình tự, thủ tục chặt chẽ. Thực hiện pháp luật về công chức là hoạt động của cơ quan Nhà nước và các tổ chức có liên quan, là hành vi của mỗi công chức trong thực thi công vụ và trong đời sống xã hội. Hiệu quả của thực hiện pháp luật về công chức phụ thuộc vào ý chí của nhà nước và mỗi cá nhân công chức. Quy trình thực hiện pháp luật về công chức có thể ở mức độ đơn giản hoặc ở mức độ phức tạp, nhưng luôn do pháp luật quy định.
Thứ hai, tổ chức thực hiện pháp luật về công chức là hoạt động sắp xếp, có định hướng của chủ thể nhằm đưa pháp luật về công chức vào cơ quan nhà nước. Pháp luật về công chức là hệ thống các quy phạm pháp luật liên quan đến công chức, do Nhà nước đặt ra để điều chỉnh các vấn đề có liên quan đến công chức; do vậy, tổ chức thực hiện pháp luật về công chức là hoạt động có chủ định, có tổ chức, có định hướng và có kế hoạch cụ thể, qua đó hình thành 14 ở các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh những tri thức, thói quen xử sự phù hợp với quy định của pháp luật về công chức, làm cho đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh tự giác nhận thức và tuân thủ thực hiện pháp luật một cách nghiêm minh nhất. Thứ ba, tổ chức thực hiện pháp luật về công chức là hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Pháp luật về công chức được ban hành, để điều chỉnh hoạt động của cơ quan, tổ chức và hành vi của công chức, nên việc thực hiện pháp luật về công chức phải thể hiện hoạt động của cơ quan, tổ chức và ở hành vi của bản thân công chức.
Hành vi đó có thể là hành động hay không hành động nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.