Luận văn: Tổ chức SHCM theo NCBH tại THPT Đông Triều, Quảng Ninh của Trần Thị Việt Yên

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học tại các trường THPT huyện Đông Triều, Quảng Ninh.

Trường đại học

Trường Đại học Sư phạm

Chuyên ngành

Quản lý Giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2015

129
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Mục đích nghiên cứu

3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4. Giả thuyết khoa học

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

7. Phương pháp nghiên cứu

8. Cấu trúc luận văn

1. Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC SINH HOẠT CHUYÊN MÔN THEO HƯỚNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC Ở TRƯỜNG THPT

1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.2. Những nghiên cứu về sinh hoạt chuyên môn của tổ bộ môn

1.3. Những nghiên cứu về quản lý sinh hoạt chuyên môn và SHCM theo hướng nghiên cứu bài học

1.4. Một số khái niệm cơ bản

1.5. Quản lý giáo dục

1.6. Tổ chuyên môn

1.7. Tổ chức sinh hoạt chuyên môn

1.8. Nghiên cứu bài học

1.9. Tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học

1.10. Quản lý sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học

1.11. Những vấn đề cơ bản về tổ chức SHCM theo hướng NCBH ở trường THPT

1.12. Mục đích của tổ chức SHCM theo hướng NCBH ở trường THPT

1.13. Bản chất tổ chức SHCM theo hướng NCBH ở trường THPT

1.14. Các bước tổ chức SHCM theo hướng NCBH

1.15. Điều kiện đảm bảo cho SHCM theo hướng NCBH

1.16. Quản lý hoạt động SHCM theo hướng NCBH ở trường THPT

1.17. Mục tiêu quản lý hoạt động SHCM theo hướng NCBH

1.18. Nội dung quản lý hoạt động SHCM theo hướng NCBH

1.19. Phương pháp quản lý hoạt động SHCM theo hướng NCBH

1.20. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động SHCM theo hướng NCBH

1.21. Nhận thức của cán bộ quản lí và giáo viên

1.22. Năng lực quản lý của nhà quản lý

1.23. Các văn bản quy định và hướng dẫn về công tác quản lí đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học

1.24. Điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường

1.25. Kết luận chương 1

2. Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC SINH HOẠT CHUYÊN MÔN THEO HƯỚNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

2.1. Khái quát khảo sát thực trạng

2.2. Khái quát về các trường THPT ở huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

2.3. Tổ chức khảo sát

2.4. Thực trạng nhận thức về quản lý tổ chức SHCM theo hướng NCBH ở các trường THPT huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

2.5. Thực trạng nhận thức về SHCM theo hướng NCBH

2.6. Nhận thức về quản lý SHCM theo hướng NCBH của GV các trường THPT huyện Đông Triều, Tỉnh Quảng Ninh

2.7. Thực trạng QL SHCM theo hướng NCBH ở các trường THPT huyện Đông Triều, Tỉnh Quảng Ninh

2.8. Thực trạng tổ chức SHCM theo hướng NCBH

2.9. Thực trạng quản lý hoạt động SHCM theo hướng NCBH các trường THPT huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh

2.10. Đánh giá chung việc quản lý SHCM theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường THPT huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

2.11. Nguyên nhân của những hạn chế

2.12. Kết luận chương 2

3. Chương 3: BIỆN PHÁP TỔ CHỨC SINH HOẠT CHUYÊN MÔN THEO HƯỚNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp

3.2. Đảm bảo tính khả thi

3.3. Đảm bảo tính đồng bộ

3.4. Đảm bảo tính thực tiễn

3.5. Đảm bảo tính hiệu quả

3.6. Nguyên tắc đảm bảo tính bền vững

3.7. Biện pháp tổ chức SHCM theo hướng NCBH ở các trường THPT huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

3.8. Nâng cao năng lực quản lý SHCM theo hướng NCBH cho các tổ trưởng chuyên môn trường THPT

3.9. Xây dựng quy chế SHCM theo hướng NCBH và tổ chức thực hiện SHCM theo hướng NCBH

3.10. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ tổ chức SHCM theo hướng NCBH

3.11. Hoàn thiện các tiêu chí đánh giá quản lý tổ chức SHCM theo hướng NCBH đối với các tổ chuyên môn ở các trường THPT

3.12. Tăng cường giám sát việc thực hiện quy chế chuyên môn của các tổ chuyên môn, giáo viên

3.13. Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất

3.14. Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp

3.15. Các bước tiến hành khảo sát thực trạng

3.16. Kết quả khảo sát và kết luận

3.17. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Hướng dẫn chi tiết Tổ chức SHCM theo NCBH THPT Đông Triều Quảng Ninh

Sự phát triển không ngừng của giáo dục đòi hỏi các nhà trường phổ thông phải liên tục đổi mới, nâng cao chất lượng. Trong bối cảnh đó, hình thức sinh hoạt chuyên môn (SHCM) truyền thống đã bộc lộ những hạn chế nhất định, chưa thực sự phát huy tối đa tiềm năng của đội ngũ giáo viên. Chính vì lẽ đó, "đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học đã được đưa vào thực hiện trong những năm gần đây" [1]. Đây là một trong những "xu thế mới trong việc thực hiện đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở các nhà trường hiện nay" [1], đặc biệt tại các khu vực đang phát triển mạnh mẽ về giáo dục như huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Việc tổ chức SHCM theo NCBH THPT Đông Triều, Quảng Ninh không chỉ là một yêu cầu cấp thiết mà còn là giải pháp chiến lược nhằm nâng cao chất lượng giáo dục THPTphát triển năng lực giáo viên Quảng Ninh. Mô hình này tập trung sâu sắc vào việc phân tích các vấn đề liên quan đến người học, đặt học sinh vào trung tâm của quá trình dạy và học. Thay vì chỉ đánh giá giờ dạy của giáo viên, sinh hoạt chuyên môn đổi mới này khuyến khích tập thể cùng nhau tìm hiểu "Học sinh học như thế nào? học sinh đang gặp khó khăn gì trong học tập? nội dung và phương pháp dạy học có phù hợp, có gây hứng thú cho học sinh không, kết quả học tập của học sinh có được cải thiện không? cần điều chỉnh điều gì và điều chỉnh như thế nào?" [1]. Qua đó, Tổ chuyên môn THPT có thể cùng nhau bồi dưỡng chuyên môn giáo viên, xây dựng cộng đồng học tập nhà trường vững mạnh, thúc đẩy phương pháp dạy học THPT Đông Triều tiến bộ, mang lại hiệu quả giáo dục Đông Triều thực chất. Sự chuyển đổi này góp phần quan trọng vào việc thực hiện chủ trương NCBH Bộ GD&ĐT, tạo ra môi trường sư phạm năng động và sáng tạo hơn. Mục tiêu cuối cùng là đảm bảo mọi học sinh đều có cơ hội học tập tối ưu, đồng thời nâng cao kỹ năng sư phạm và khả năng sáng tạo của từng giáo viên trong quá trình giảng dạy.

1.1. SHCM theo NCBH Khái niệm và Tầm quan trọng đối với THPT

SHCM theo NCBH (Sinh hoạt chuyên môn theo hướng Nghiên cứu Bài học) là một hoạt động chuyên môn trọng tâm, khác biệt rõ rệt so với hình thức sinh hoạt chuyên môn truyền thống. Thay vì tập trung vào việc đánh giá, xếp loại giờ dạy của giáo viên, mô hình này "đặt trọng tâm vào việc phân tích các vấn đề liên quan đến người học" [15]. Mục đích chính là "tìm ra nguyên nhân tại sao học sinh học chưa đạt kết quả như mong muốn và có biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học, tạo cơ hội cho mọi học sinh được tham gia vào quá trình học tập" [15]. Tầm quan trọng của Nghiên cứu bài học THPT nằm ở khả năng "nâng cao năng lực nghề nghiệp của GV thông qua nghiên cứu, cải tiến các hoạt động dạy học các bài học cụ thể, qua đó nâng cao chất lượng học của HS" [30]. Đối với các trường trung học phổ thông, đặc biệt là tại Đông Triều, Quảng Ninh, việc áp dụng sinh hoạt chuyên môn đổi mới này giúp hình thành một "cộng đồng học tập" trong nhà trường, nơi giáo viên cùng nhau học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm, từ đó "nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của GV và chất lượng học tập của HS" [Kết luận Chương 1]. Điều này đặc biệt cần thiết để đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới, hướng tới phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất của học sinh.

1.2. Bối cảnh Giáo dục phổ thông Đông Triều và nhu cầu đổi mới

Huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, vốn là một địa phương có truyền thống hiếu học và đạt được nhiều thành tựu trong giáo dục. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, ngành giáo dục phổ thông Đông Triều cũng đứng trước yêu cầu phải đổi mới giáo dục THPT mạnh mẽ hơn. Các trường THPT Đông Triều, như THPT Nguyễn Bình, THPT Trần Nhân Tông và THPT Đông Triều, đều có quy mô lớn với số lượng học sinh đông đảo, điều này đặt ra thách thức trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục đồng đều và phát triển năng lực cho từng học sinh. Nhu cầu bồi dưỡng chuyên môn giáo viên trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết để đáp ứng các chuẩn nghề nghiệp giáo viên mới và các yêu cầu của chương trình giáo dục hiện hành. "Thực tế cho thấy, sinh hoạt chuyên môn hiện nay còn bộc lộ nhiều vấn đề bất cập cần phải thay đổi, đó là: chất lượng các buổi SHCM chưa cao; nội dung sinh hoạt chuyên đề chưa được chú trọng; các báo cáo chuyên đề, sáng kiến kinh nghiệm được nghiệm thu xong để đấy" [1]. Điều này đã thúc đẩy các nhà quản lý và giáo viên tại Đông Triều tìm kiếm các mô hình SHCM tại Quảng Ninh hiệu quả hơn, trong đó tổ chức SHCM theo NCBH THPT Đông Triều, Quảng Ninh được xem là một hướng đi chiến lược để "nâng cao năng lực sư phạm, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên" [1], từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục THPT toàn diện.

II. Thách thức nào cản trở Sinh hoạt chuyên môn đổi mới tại Quảng Ninh

Việc tổ chức SHCM theo NCBH THPT Đông Triều, Quảng Ninh dù mang lại nhiều lợi ích, nhưng vẫn đối mặt với không ít thách thức, đặc biệt trong giai đoạn chuyển giao từ mô hình truyền thống. "Hầu hết giáo viên còn rất mơ hồ về khái niệm cũng như cách thức tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học" [1]. Đây là một rào cản lớn đối với việc phát triển năng lực giáo viên Quảng Ninh theo định hướng mới. Sự thiếu hụt về nhận thức và kỹ năng thực hành Nghiên cứu bài học THPT khiến cho việc thực hiện SHCM theo NCBH gặp khó khăn, chưa đạt được hiệu quả giáo dục Đông Triều như kỳ vọng. Nhiều giáo viên vẫn quen với hình thức dự giờ phân tích bài học truyền thống, nơi trọng tâm là đánh giá, xếp loại giáo viên, hơn là tập trung vào quá trình học của học sinh và cùng nhau cải tiến phương pháp. Bất cập này thể hiện rõ qua "chất lượng các buổi SHCM chưa cao; nội dung sinh hoạt chuyên đề chưa được chú trọng; các báo cáo chuyên đề, sáng kiến kinh nghiệm được nghiệm thu xong để đấy" [1]. Để nâng cao chất lượng giáo dục THPT, cần có sự thay đổi mạnh mẽ trong nhận thức và phương pháp triển khai. Đặc biệt, việc xây dựng một cộng đồng học tập nhà trường thực sự chia sẻ và hỗ trợ lẫn nhau vẫn còn là một thử thách, khi mà "sự phân chia môn học và giảng dạy theo khối đã tạo ra sự ngăn cách giữa các GV, khó có thể cùng hành động hướng đến mục tiêu chung" [Bảng so sánh SHCM truyền thống và SHCM theo NCBH, tài liệu gốc]. Các yếu tố về cơ sở vật chất, tài liệu hướng dẫn và sự đồng bộ trong chỉ đạo từ Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh cũng đóng vai trò quan trọng, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ để vượt qua những rào cản này, thực hiện thành công đổi mới giáo dục THPT tại Đông Triều.

2.1. Thực trạng SHCM truyền thống tại các Trường THPT Đông Triều

Tại các Trường THPT Đông Triều, hình thức SHCM truyền thống đã được thực hiện trong nhiều năm, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế đáng kể. "SHCM ở các nhà trường hiện nay thường diễn ra theo hai hình thức: sinh hoạt chuyên môn theo tổ chức các chuyên đề và dự giờ trao đổi kinh nghiệm về bài học" [1]. Mặc dù cả hai hình thức này đã góp phần nhất định vào việc nâng cao chất lượng giáo dục THPT, chúng vẫn bộc lộ nhiều "vấn đề bất cập cần phải thay đổi" [1]. Các buổi dự giờ phân tích bài học thường "trầm lắng, ít ý kiến phát biểu" [1] do giáo viên không mấy hứng thú, và trọng tâm thường là đánh giá, xếp loại giáo viên thay vì tập trung vào sự tiến bộ của học sinh. "Bài dạy minh họa được coi là bài dạy mẫu" [Bảng so sánh], khiến giáo viên dạy cảm thấy áp lực phải trình diễn hơn là thử nghiệm và học hỏi. Thực trạng này cho thấy một sự thiếu hụt trong việc khuyến khích sự chủ động, sáng tạo và tinh thần hợp tác trong tổ chuyên môn THPT. Việc thực hiện SHCM theo NCBH đòi hỏi sự phá vỡ các khuôn mẫu cũ, hướng tới một môi trường học tập cởi mở, nơi mọi giáo viên đều là người học và cùng nhau bồi dưỡng chuyên môn giáo viên để đạt được hiệu quả giáo dục Đông Triều tốt hơn.

2.2. Khó khăn khi triển khai Nghiên cứu bài học THPT ở Quảng Ninh

Việc triển khai Nghiên cứu bài học THPT trên địa bàn Quảng Ninh, đặc biệt tại Đông Triều, gặp phải nhiều khó khăn xuất phát từ nhiều yếu tố. "Nghiên cứu bài học cũng đã được vận dụng ở Việt Nam từ đầu học 2009 - 2010 nhưng còn ít và rải rác" [7], cho thấy đây là một khái niệm khá mới mẻ và chưa phổ biến rộng rãi. "Hầu hết giáo viên còn rất mơ hồ về khái niệm cũng như cách thức tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học" [1], điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phát triển năng lực giáo viên Quảng Ninh. Sự thiếu hụt về tập huấn giáo viên NCBH chuyên sâu, bài bản cũng là một rào cản lớn. Ngoài ra, việc thay đổi từ tư duy đánh giá giáo viên sang tư duy tập trung vào học sinh đòi hỏi một quá trình chuyển đổi nhận thức sâu sắc. Các tổ chuyên môn THPT cần được trang bị kiến thức và kỹ năng để xây dựng cộng đồng học tập nhà trường thực sự, nơi giáo viên "cùng nhau học hỏi từ thực tế" [15]. Các yếu tố ảnh hưởng khác bao gồm "nhận thức của cán bộ quản lí và giáo viên", "năng lực quản lý của nhà quản lý", "các văn bản quy định và hướng dẫn" còn chưa đồng bộ, và "điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường" [34-35] chưa đáp ứng đầy đủ, gây trở ngại cho việc thực hiện SHCM theo NCBH một cách hiệu quả tại THPT Đông Triều.

III. Quy trình 4 bước Thực hiện SHCM theo NCBH hiệu quả trường THPT

Để tổ chức SHCM theo NCBH THPT Đông Triều, Quảng Ninh đạt hiệu quả cao, việc tuân thủ một quy trình rõ ràng và khoa học là điều kiện tiên quyết. Mô hình Nghiên cứu bài học THPT được thực hiện qua bốn bước chính, đảm bảo tính liên tục và sự tham gia tích cực của toàn thể giáo viên trong tổ chuyên môn THPT. Quy trình này không chỉ định hướng cho các hoạt động mà còn giúp "nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ gắn với đảm bảo cơ hội học tập và nâng cao chất lượng, hiệu quả việc học của từng HS" [15]. Bước đầu tiên là việc "Xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch bài học nghiên cứu" [25], đặt nền móng cho toàn bộ quá trình. Sau đó, là giai đoạn "Tổ chức bài học và dự giờ" [25], nơi ý tưởng được kiểm chứng trong thực tiễn. Điều cốt lõi ở đây là việc dự giờ phân tích bài học không nhằm đánh giá mà để quan sát học sinh. Bước thứ ba là "Thảo luận về bài học nghiên cứu" [27], một hoạt động mang tính hợp tác cao, khuyến khích "cộng đồng học tập nhà trường" chia sẻ và cùng nhau tìm ra giải pháp. Cuối cùng, "Áp dụng cho thực tiễn dạy học hàng ngày" [27] nhằm nhân rộng những kinh nghiệm và bài học quý giá. Việc thực hiện SHCM theo NCBH một cách bài bản, đúng quy trình sẽ góp phần quan trọng vào sinh hoạt chuyên môn đổi mới, giúp bồi dưỡng chuyên môn giáo viên, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục THPT tại Đông Triều. Quy trình này yêu cầu sự chủ động, sáng tạo và tinh thần học hỏi không ngừng từ phía giáo viên cũng như sự chỉ đạo, hỗ trợ từ phía cán bộ quản lý, hướng tới mục tiêu cuối cùng là hiệu quả giáo dục Đông Triều thông qua việc cải thiện chất lượng học tập của học sinh.

3.1. Bước 1 Xác định mục tiêu và xây dựng Kế hoạch bài học nghiên cứu

Bước đầu tiên trong quy trình tổ chức SHCM theo NCBH THPT Đông Triều, Quảng Ninh là xác định rõ mục tiêu và xây dựng kế hoạch bài học nghiên cứu chi tiết. Mục tiêu cần tập trung vào kiến thức và kỹ năng mà học sinh cần đạt được. "Mục tiêu bài học được nghiên cứu, được đề xuất bởi một thành viên trong tổ CM, sau đó được góp ý, hoàn thiện thông qua thảo luận trong phạm vi của tổ chuyên môn" [25]. Các giáo viên trong tổ chuyên môn THPT sẽ cùng nhau thảo luận "chi tiết, cụ thể bài học tiến hành nghiên cứu như: Đặt câu hỏi xem đây là loại bài học gì; cách giới thiệu bài học như thế nào; sử dụng các phương pháp và phương tiện dạy học thế nào cho đạt hiệu quả cao; nội dung bài học chia ra những đơn vị kiến thức nào; dự kiến tổ chức hoạt động dạy học nào tương ứng; dự kiến tích hợp nội dung giáo dục nào là phù hợp" [25]. Sau buổi họp này, một giáo viên sẽ nhận nhiệm vụ phát triển đề cương giáo án đầu tiên, dựa trên sự đóng góp ý kiến từ tập thể. Đây là giai đoạn quan trọng để định hình phương pháp dạy học THPT Đông Triều phù hợp, đảm bảo sự đồng thuận và sáng tạo của toàn bộ cộng đồng học tập nhà trường trước khi triển khai thực tiễn.

3.2. Bước 2 Tổ chức bài học và Dự giờ phân tích bài học chuyên sâu

Sau khi kế hoạch bài học nghiên cứu được hoàn thiện, một giáo viên sẽ đảm nhận việc dạy minh họa tại một lớp học cụ thể. Đây là giai đoạn trọng tâm của việc thực hiện SHCM theo NCBH, nơi lý thuyết được kiểm chứng qua thực tiễn. Điểm khác biệt lớn của dự giờ phân tích bài học trong mô hình SHCM theo NCBH là không tập trung vào việc đánh giá hay xếp loại giáo viên. Thay vào đó, "người dự cần học tập, hiểu và thông cảm với khó khăn của người dạy. Đặt mình vào vị trí của người dạy để phát hiện những khó khăn trong việc học của HS để tìm cách giải quyết" [27]. Giáo viên dự giờ tập trung quan sát học sinh: "cách phản ứng của học sinh trong giờ học, cách làm việc nhóm, những sai lầm học sinh mắc phải. Quan sát tất cả đối tượng học sinh, không được “bỏ rơi” một HS nào" [26]. Vị trí quan sát cũng được bố trí thuận lợi để nắm bắt "nét mặt, thái độ biểu cảm của học sinh" [26]. Mục tiêu là thu thập dữ liệu khách quan về quá trình học của học sinh, từ đó làm cơ sở cho việc thảo luận và cải tiến phương pháp dạy học THPT Đông Triều, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục THPTphát triển năng lực giáo viên Quảng Ninh một cách thực chất.

3.3. Bước 3 4 Thảo luận điều chỉnh và Áp dụng cho thực tiễn giảng dạy

Sau buổi dạy minh họa, tổ chuyên môn THPT sẽ tiến hành "thảo luận về bài học nghiên cứu" [27]. Đây là bước quan trọng để "suy ngẫm và chia sẻ các ý kiến của GV về bài học sau khi dự giờ" [27]. Mọi ý kiến đều được tôn trọng, tập trung "phân tích các vấn đề liên quan đến việc học của HS" [27], không đánh giá hay xếp loại giáo viên. "Nếu giờ dạy gặp nhiều khó khăn... các GV sau khi đưa ra các ý kiến để khắc phục những khó khăn đó, chỉnh lại giáo án ban đầu. Thì có thể tiến hành bài học và dự giờ lần 2" [27]. Sự linh hoạt này giúp giáo viên "tự nhận ra hạn chế của bản thân để điều chỉnh kịp thời" [23], từ đó nâng cao chất lượng giáo dục THPT. Bước cuối cùng là "Áp dụng cho thực tiễn dạy học hàng ngày" [27]. "Nếu bài học nghiên cứu làm tốt sẽ được phổ biến rộng rãi, vận dụng vào các bài học khác" [27]. Việc này thúc đẩy sinh hoạt chuyên môn đổi mới trở thành một hoạt động thường xuyên, nơi giáo viên liên tục học hỏi, cải tiến phương pháp dạy học THPT Đông Triều, và bồi dưỡng chuyên môn giáo viên. Qua đó, cộng đồng học tập nhà trường thực sự được củng cố, mang lại hiệu quả giáo dục Đông Triều bền vững và góp phần vào đổi mới giáo dục THPT tại Quảng Ninh.

IV. Phương pháp Quản lý SHCM theo NCBH giúp Nâng cao năng lực giáo viên

Để tổ chức SHCM theo NCBH THPT Đông Triều, Quảng Ninh đạt được thành công bền vững, vai trò của công tác quản lý là vô cùng quan trọng. "Quản lý SHCM theo hướng nghiên cứu bài học chính là quá trình Hiệu trưởng thực hiện các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra để điều hành sinh hoạt tổ chuyên môn theo các qui định và yêu cầu mới" [18]. Mục tiêu cốt lõi của công tác này là "nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ, giúp GV có khả năng chủ động điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng HS" [18]. Người Hiệu trưởng, cùng với ban giám hiệu và tổ trưởng chuyên môn, phải trở thành những người dẫn dắt, truyền cảm hứng cho toàn bộ "cộng đồng học tập nhà trường". Điều này đòi hỏi "Hiệu trưởng các nhà trường cần phải nắm vững kế hoạch, chương trình và phương pháp giảng dạy các bộ môn ở các khối lớp. HT phải là một người giỏi về nghiệp vụ sư phạm" [16]. Công tác quản lý không chỉ dừng lại ở việc ban hành quy định mà còn bao gồm việc tạo điều kiện thuận lợi về thời gian, cơ sở vật chất, và tinh thần để giáo viên có thể thực sự tham gia vào quá trình Nghiên cứu bài học THPT. Việc "bồi dưỡng cho CBGV hiểu rõ về ý nghĩa, tầm quan trọng của SHCM theo hướng nghiên cứu bài học và cùng nhau nhất trí quyết tâm thực hiện" [18] là yếu tố then chốt. Công tác quản lý SHCM theo NCBH cần kết hợp linh hoạt nhiều phương pháp, từ thuyết phục, khuyến khích kinh tế đến các biện pháp hành chính tổ chức và tâm lý giáo dục, nhằm phát huy tối đa tiềm năng của đội ngũ, góp phần phát triển năng lực giáo viên Quảng Ninh và đạt được hiệu quả giáo dục Đông Triều cao nhất. Đây là một cuộc cách mạng trong sinh hoạt chuyên môn đổi mới đòi hỏi sự quyết tâm và phối hợp đồng bộ từ các cấp quản lý đến từng giáo viên.

4.1. Mục tiêu và Nội dung quản lý SHCM theo NCBH hiệu quả

Mục tiêu chính của việc quản lý SHCM theo NCBH là "đảm bảo cơ hội học tập cho mọi em học sinh, đảm bảo cơ hội phát triển chuyên môn cho mọi giáo viên, đảm bảo cơ hội cho càng nhiều tổ chức, cá nhân tham gia vào việc học của học sinh trên lớp" [28]. Điều này nhằm hướng tới nâng cao chất lượng giáo dục THPT một cách toàn diện. Nội dung quản lý bao gồm "lập kế hoạch tổ chức hoạt động SHCM của tổ theo hướng NCBH" [29], trong đó xác định rõ các mục tiêu, lựa chọn chuyên đề, tiết dạy minh họa, và xây dựng giáo án chung. Kế hoạch này là một phần không thể thiếu trong hoạt động của tổ chuyên môn THPT. Tiếp theo là "tổ chức thực hiện kế hoạch SHCM của tổ chuyên môn theo hướng NCBH" [29], tập trung vào việc hình thành cách dự giờ mới, xây dựng quan hệ đồng nghiệp thân thiện và phân tích sâu các nguyên nhân, mối quan hệ trong giờ học để tìm biện pháp cải tiến. Ngoài ra, việc "chỉ đạo, giám sát tổ chức SHCM theo hướng NCBH ở tổ bộ môn" [30] và "kiểm tra đánh giá SHCM theo hướng NCBH" [31] cũng là những nội dung trọng yếu, giúp đảm bảo quá trình diễn ra đúng hướng và đạt được hiệu quả giáo dục Đông Triều mong đợi.

4.2. Các Phương pháp quản lý hoạt động SHCM theo NCBH cần áp dụng

Để quản lý hiệu quả hoạt động SHCM theo NCBH, người quản lý cần vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp quản lý khác nhau. "Tính hiệu quả của QL phụ thuộc một phần quan trọng vào việc lựa chọn đúng đắn và áp dụng linh hoạt các phương pháp và biện pháp quản lý" [32]. Các phương pháp chính bao gồm: (i) Phương pháp thuyết phục: Tác động vào nhận thức của giáo viên, giúp họ hiểu rõ tầm quan trọng và lợi ích của sinh hoạt chuyên môn đổi mới. (ii) Phương pháp kinh tế: Khuyến khích giáo viên thông qua các lợi ích kinh tế, tạo động lực tích cực tham gia. (iii) Phương pháp hành chính tổ chức: Thiết lập quy định, phân công nhiệm vụ rõ ràng trong tổ chuyên môn THPT, đảm bảo kỷ cương và tiến độ. (iv) Phương pháp tâm lý giáo dục: Kích thích ý thức tự giác, say mê và tinh thần sáng tạo của giáo viên, tạo môi trường làm việc tích cực, xây dựng "cộng đồng học tập nhà trường" gắn kết. Sự kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp này sẽ giúp bồi dưỡng chuyên môn giáo viên, phát triển năng lực giáo viên Quảng Ninh và tối ưu hóa quá trình thực hiện SHCM theo NCBH tại THPT Đông Triều, mang lại hiệu quả giáo dục Đông Triều đáng kể.

4.3. Điều kiện cần để tổ chức SHCM theo NCBH đạt được Hiệu quả giáo dục

Để tổ chức SHCM theo NCBH THPT Đông Triều, Quảng Ninh thành công và đạt hiệu quả giáo dục cao, cần đảm bảo một số điều kiện SHCM theo NCBH thiết yếu. Thứ nhất, "nhóm GV hợp tác xây dựng giáo án và thực hiện tiết học minh họa là tiết học như bình thường hàng ngày" [28], tránh tạo áp lực biểu diễn. Thứ hai, "vị trí GV dự giờ có thể quan sát được nét mặt, thái độ biểu cảm của học sinh" [28], giúp thu thập dữ liệu chính xác về quá trình học của học sinh. Thứ ba, sau dự giờ, cần "cùng nhau nêu lại những ấn tượng của mình khi quan sát học sinh học trong lớp, có thể minh họa bằng các hình ảnh đã quay video hoặc chụp ảnh được để minh chứng thêm phần thuyết phục" [28]. Thứ tư, "không đánh giá giờ dạy của GV mà cùng nhau nhìn nhận những mặt đã đạt được và chưa đạt để điều chỉnh cho tiết học sau" [28], tạo môi trường cởi mở, không phán xét. Cuối cùng, "sự ủng hộ từ phía lãnh đạo các cấp cho việc SHCM theo NCBH" [28], bao gồm cả Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh, là yếu tố then chốt. Các điều kiện này giúp tổ chuyên môn THPT hoạt động hiệu quả, khuyến khích sinh hoạt chuyên môn đổi mới, phát triển năng lực giáo viên Quảng Ninh, và nâng cao chất lượng giáo dục THPT bền vững tại Đông Triều.

V. Kết quả thực tiễn và Biện pháp Tổ chức SHCM tại Đông Triều

Nghiên cứu thực trạng tổ chức SHCM theo NCBH THPT Đông Triều, Quảng Ninh do Trần Thị Việt Yên (2015) thực hiện đã cung cấp cái nhìn sâu sắc về những kết quả đạt được và những thách thức còn tồn tại. Luận văn đã "đánh giá thực trạng tổ chức sinh hoạt chuyên môn, thực trạng công tác quản lý hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường THPT huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh" [Nhiệm vụ nghiên cứu 5.2]. Kết quả khảo sát tại ba trường THPT Đông Triều (THPT Nguyễn Bình, THPT Trần Nhân Tông, THPT Đông Triều) cho thấy sự chuyển biến ban đầu trong nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của SHCM theo NCBH và sự cần thiết của sinh hoạt chuyên môn đổi mới. Tuy nhiên, quá trình thực hiện SHCM theo NCBH vẫn còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong việc thay đổi thói quen dự giờ phân tích bài học truyền thống sang mô hình tập trung vào người học. Để khắc phục những hạn chế này và nâng cao chất lượng giáo dục THPT, luận văn đã đề xuất "các biện pháp tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học góp phần nâng cao hiệu quả sinh hoạt chuyên môn của tổ bộ môn, nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên" [Mục đích nghiên cứu]. Các biện pháp này được xây dựng trên nguyên tắc "đảm bảo tính khả thi, tính đồng bộ, tính thực tiễn, tính hiệu quả và tính bền vững" [67], nhằm tạo ra sự thay đổi toàn diện và sâu rộng trong phương pháp dạy học THPT Đông Triềuphát triển năng lực giáo viên Quảng Ninh. Sự phối hợp giữa các cấp quản lý, tổ chuyên môn THPT và từng giáo viên là chìa khóa để triển khai thành công những biện pháp này, mang lại hiệu quả giáo dục Đông Triều tối ưu nhất.

5.1. Phân tích Thực trạng SHCM theo NCBH tại THPT Đông Triều

Thực trạng SHCM theo NCBH tại các Trường THPT Đông Triều (Nguyễn Bình, Trần Nhân Tông, Đông Triều) cho thấy bức tranh đa chiều. "Nhận thức của CBGV về sự cần thiết của đổi mới SHCM theo hướng NCBH" đã có những chuyển biến tích cực, với đa số giáo viên và cán bộ quản lý đều nhận thấy tầm quan trọng của mô hình này [Bảng 2.9, tài liệu gốc]. Tuy nhiên, việc thực hiện SHCM theo NCBH vẫn còn ở giai đoạn đầu và chưa đồng bộ. "Mức độ thực hiện các bước SHCM theo hướng NCBH" chưa cao, đặc biệt là ở các bước thảo luận sâu về bài học và điều chỉnh phương pháp dựa trên phản ứng của học sinh [Bảng 2.15, tài liệu gốc]. Các buổi dự giờ phân tích bài học vẫn còn mang nặng tính hình thức, chưa thực sự tập trung vào việc nghiên cứu bài học THPT để cải tiến phương pháp. Nguyên nhân của những hạn chế này bao gồm "nhận thức của cán bộ quản lí và giáo viên" còn chưa sâu sắc, "năng lực quản lý của nhà quản lý" còn hạn chế trong việc chỉ đạo mô hình mới, và "điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường" chưa đáp ứng đầy đủ [34-35]. Việc phân tích thực trạng này là cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp phù hợp, giúp tổ chức SHCM theo NCBH THPT Đông Triều, Quảng Ninh hiệu quả hơn, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục THPT.

5.2. Biện pháp Nâng cao năng lực quản lý SHCM theo NCBH cho tổ trưởng

Để nâng cao năng lực quản lý SHCM theo NCBH cho các tổ trưởng chuyên môn THPT là một trong những biện pháp trọng tâm. Luận văn đã đề xuất "nâng cao năng lực quản lý SHCM theo hướng NCBH cho các tổ trưởng chuyên môn trường THPT" [67]. Điều này bao gồm việc tập huấn giáo viên NCBH chuyên sâu cho tổ trưởng, giúp họ nắm vững lý thuyết, quy trình và kỹ năng điều hành các buổi sinh hoạt chuyên môn theo hướng mới. Tổ trưởng cần "chủ trì các buổi chọn bài dạy mẫu và xây dựng giáo án chung", "giám sát việc xác định mục tiêu của tiết dạy", và "đôn đốc quá trình góp ý xây dựng giáo án chung của các tổ viên" [30]. Năng lực của tổ trưởng trong việc "chỉ đạo việc thảo luận và rút kinh nghiệm" [30] sau giờ dạy minh họa là rất quan trọng, đảm bảo không khí thảo luận cởi mở, tập trung vào học sinh thay vì đánh giá giáo viên. Việc tăng cường năng lực cho tổ trưởng giúp họ trở thành hạt nhân của sinh hoạt chuyên môn đổi mới, thúc đẩy phát triển năng lực giáo viên Quảng Ninh và xây dựng cộng đồng học tập nhà trường vững mạnh, từ đó cải thiện hiệu quả giáo dục Đông Triềunâng cao chất lượng giáo dục THPT.

5.3. Tăng cường Cơ sở vật chất và hoàn thiện Đánh giá SHCM

Hai biện pháp quan trọng khác để tối ưu hóa tổ chức SHCM theo NCBH THPT Đông Triều, Quảng Ninh là "tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ tổ chức SHCM theo hướng NCBH" và "hoàn thiện các tiêu chí đánh giá quản lý tổ chức SHCM theo hướng NCBH đối với các tổ chuyên môn ở các trường THPT" [76]. "Hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường phải hiện đại, đồng bộ; sự phát triển của các phòng học đa phương tiện sẽ giúp cho công tác quản lý đổi mới sinh hoạt TCM theo hướng nghiên cứu bài học được thuận lợi hơn" [36]. Việc trang bị đầy đủ các công cụ hỗ trợ, như máy quay video, thiết bị trình chiếu, giúp giáo viên dễ dàng ghi lại và phân tích quá trình học của học sinh trong dự giờ phân tích bài học. Về mặt đánh giá SHCM, cần xây dựng các tiêu chí "định tính, định lượng" [31] phù hợp với bản chất của Nghiên cứu bài học THPT, khuyến khích "nâng cao nhận thức tự kiểm tra của giáo viên về việc thực hiện các bước nghiên cứu bài học" [31]. Việc này giúp tổ chuyên môn THPT tự đánh giá hiệu quả hoạt động, từ đó điều chỉnh và cải thiện liên tục phương pháp dạy học THPT Đông Triều, góp phần vào đổi mới giáo dục THPTnâng cao chất lượng giáo dục THPT chung.

VI. Tương lai của SHCM theo NCBH Định hướng Phát triển giáo dục THPT

Hướng đi của tổ chức SHCM theo NCBH THPT Đông Triều, Quảng Ninh không chỉ dừng lại ở việc cải thiện thực trạng hiện tại mà còn mở ra một tương lai đầy hứa hẹn cho phát triển giáo dục THPT trong khu vực. Mô hình SHCM theo NCBH được kỳ vọng sẽ trở thành "cách tổ chức sinh hoạt chuyên môn phổ biến, có hiệu quả trong các nhà trường phổ thông" [1], đặc biệt tại các Trường THPT Đông Triều. Việc tiếp tục đổi mới giáo dục THPT thông qua sinh hoạt chuyên môn đổi mới này là một cam kết lâu dài, nhằm "thực hiện đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015" [19]. Để đạt được điều này, cần có sự đầu tư mạnh mẽ vào tập huấn giáo viên NCBH và xây dựng "cộng đồng học tập nhà trường" nơi mỗi giáo viên đều là người học và người chia sẻ kinh nghiệm. Sự ủng hộ và chỉ đạo từ Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh đóng vai trò then chốt trong việc tạo ra hành lang pháp lý và nguồn lực cần thiết. Tương lai của SHCM theo NCBH hứa hẹn một nền giáo dục mà ở đó, "tất cả học sinh có cơ hội tham gia vào quá trình học tập, GV quan tâm đến khả năng học tập của học sinh đặc biệt là học sinh tiếp thu bài chậm" [15]. Đồng thời, nó "tạo cơ hội cho tất cả GV nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng sư phạm và khả năng sáng tạo trong dạy học, từ đó nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường" [15], góp phần tạo nên hiệu quả giáo dục Đông Triều bền vững. Đây chính là con đường để xây dựng một đội ngũ giáo viên vững mạnh, đáp ứng các chuẩn nghề nghiệp giáo viên quốc gia và quốc tế, thực sự làm chủ phương pháp dạy học THPT Đông Triều theo hướng hiện đại.

6.1. Tổng kết vai trò của SHCM theo NCBH trong Đổi mới giáo dục THPT

SHCM theo NCBH đóng vai trò trung tâm trong quá trình đổi mới giáo dục THPT hiện nay. Mô hình này không chỉ đơn thuần là một phương pháp bồi dưỡng chuyên môn mà còn là một triết lý giáo dục, đặt học sinh vào vị trí trung tâm. Vai trò của nó được thể hiện qua khả năng "nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng sư phạm và khả năng sáng tạo trong dạy học" [15] cho giáo viên, từ đó trực tiếp nâng cao chất lượng giáo dục THPT. Thông qua việc khuyến khích dự giờ phân tích bài học tập trung vào người học, SHCM theo NCBH giúp giáo viên "có khả năng chủ động điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh của lớp, trường mình" [15]. Đây là yếu tố then chốt để đảm bảo mọi học sinh, kể cả học sinh tiếp thu bài chậm, đều có cơ hội học tập và phát triển. Sự hình thành một cộng đồng học tập nhà trường thông qua sinh hoạt chuyên môn đổi mới cũng là một vai trò quan trọng, thúc đẩy sự hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm và cùng nhau giải quyết vấn đề. Tóm lại, SHCM theo NCBH là đòn bẩy quan trọng để phát triển năng lực giáo viên Quảng Ninh, cải thiện hiệu quả giáo dục Đông Triều và đưa nền giáo dục phổ thông tiến tới những mục tiêu cao hơn.

6.2. Kiến nghị phát triển Cộng đồng học tập nhà trường bền vững

Để phát triển cộng đồng học tập nhà trường bền vững thông qua tổ chức SHCM theo NCBH THPT Đông Triều, Quảng Ninh, cần có những kiến nghị cụ thể. Thứ nhất, cần tăng cường tập huấn giáo viên NCBH một cách bài bản, liên tục, không chỉ về quy trình mà còn về tư duy đặt học sinh làm trung tâm. Thứ hai, Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh cần có những chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi về thời gian và nguồn lực cho các tổ chuyên môn THPT thực hiện sinh hoạt chuyên môn đổi mới. "Việc duy trì liên tục với số lần càng nhiều thì sự thay đổi và tiến bộ trong từng thành viên trong nhà trường càng lớn" [18]. Thứ ba, cần hoàn thiện hệ thống đánh giá SHCM theo hướng khuyến khích sự hợp tác, học hỏi lẫn nhau thay vì chỉ đánh giá cá nhân. Cuối cùng, việc xây dựng một văn hóa chia sẻ, cởi mở trong nhà trường, nơi "mọi người tham gia vẫn thấy hào hứng" [18] và mọi ý tưởng sáng tạo đều được vận dụng, thử nghiệm, là chìa khóa để phát triển năng lực giáo viên Quảng Ninh và đảm bảo hiệu quả giáo dục Đông Triều lâu dài. Một cộng đồng học tập nhà trường vững mạnh sẽ là nền tảng cho đổi mới giáo dục THPT thành công.

02/10/2025
Luận văn thạc sĩ tổ chức sinh hoạt sinh chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường trung học phổ thông huyện đông triều tỉnh quảng ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC SINH HOẠT CHUYÊN MÔN THEO HƯỚNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC Ở TRƯỜNG THPT 1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề. Những nghiên cứu về sinh hoạt chuyên môn của tổ bộ môn Giáo dục nói chung và dạy học nói riêng là một hoạt động đặc biệt của xã hội. Từ xưa tới nay vai trò của GD đối với xã hội được thừa nhận là không thể thiếu.

Sự phát triển của xã hội luôn kéo theo, song hành với phát triển GD. Thực tế cho thấy trên thế giới, không một quốc gia nào có thể phát triển được nếu như nền GD nước đó không phát triển. Nhà trường là nơi thực hiện các hoạt động GD chính. Hoạt động quản lý (QLGD) trong đó có quản lý sinh hoạt chuyên môn là một trong những hoạt động GD chủ đạo trong nhà trường.

Sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học cho đến nay, vẫn phổ biến ở nhiều trường tại Nhật Bản và được xem như hình thức chủ yếu để phát triển năng lực chuyên môn của GV tại trường. Thuật ngữ “Nghiên cứu bài học”có nguồn gốc trong lịch sử giáo dục Nhật Bản, từ thời Meiji (1868 -1912), như một biện pháp để nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên thông qua nghiên cứu cải tiến các hoạt động dạy học ở từng bài học cụ thể. Hình thức này cũng đã được nhiều nước trên thế giới áp dung như Mỹ, Đức, Úc, Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Indonesia… Và đây cũng là một chủ đề giáo dục được quan tâm trên thế giới. Ở Việt Nam, hiện nay đã có nhiều tác giả nghiên cứu về QLGD, mà trong đó được quan tâm đến nhiều là QL sinh hoạt chuyên môn và QL hoạt động dạy học.

Nhiều quan điểm, triết lý GD đã được nêu lên, đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn.… Theo tác giả Hà Sĩ Hồ đã viết: “Hiệu trưởng là người luôn luôn biết kết hợp một cách hữu cơ sự QL dạy và học các môn và các hoạt động khác hỗ trợ cho hoạt động dạy nhằm làm cho tác động GD hoàn chỉnh và trọn vẹn”.[23] 6 download by : skknchat@gmail.com Sau một thời gian học tập nghiên cứu, tôi nhận thấy trong hơn một thập kỷ qua, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về QL hoạt động chuyên môn của tổ bộ môn trong nhà trường của HT để nâng cao chất lượng GD trong NT như: Tác giả Nguyễn Thị Hoa (2011), đã đề cập đến những biện pháp QL tổ chuyên môn (TCM) của HT đối với công tác đổi mới chương trình, sách giáo khoa trong đề tài “ Một số biện pháp hoạt động CM trong quá trình đổi mới chương trình ở các trường THPT thành phố Thái Bình ”; tác giả Nguyễn Thế Giang (2012), cũng đã quan tâm đến vấn đề nâng cao chất lượng hoạt động của TCM với đề tài “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của TCM của các trường THPT thành phố Hà Tây ”;. Các tác giả đã dày công nghiên cứu lí luận, khảo sát thực trạng SHCM của các tổ chuyên môn theo quan điểm truyền thống. Tuy nhiên, đa số các đề tài chỉ tập trung vào mục đích nâng cao chất lượng dạy và học. Các biện pháp đề xuất đã cho thấy người HT vẫn còn trực tiếp thực hiện nhiều công việc chuyên môn cụ thể, chưa thấy nổi bật lên chức năng QL hoạt động sinh hoạt chuyên môn của tổ bộ môn trong NT.

Những nghiên cứu về quản lý sinh hoạt chuyên môn và SHCM theo hướng nghiên cứu bài học Trong nhà trường phổ thông, đội ngũ GV lại được sắp xếp theo từng TCM nên việc QLHĐ của đội ngũ GV đối với người hiệu trưởng (HT) chính là QLHĐ của tổ CM trong nhà trường. Suy cho cùng, mục đích của công việc QL này là nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của nhà trường: nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường. Điều này đã được khẳng định trong Luật Giáo dục năm 2005: "Tuy không trực tiếp tham gia vào HĐ dạy và học, nhưng cán bộ QLGD bằng những HĐQL của mình tác động vào quá trình GD nhằm hướng cho HĐ dạy và học đạt được những mục tiêu yêu cầu của GD và bảo đảm chất lượng GD" [33]. 7 download by : skknchat@gmail.com Nghiên cứu bài học cũng đã được vận dụng ở Việt Nam từ đầu học 2009 - 2010 nhưng còn ít và rải rác.

Bộ GD&ĐT và JICA (Tổ chức phát triển hợp tác quốc tế của Nhật Bản) cũng đã triển khai dự án về: Tăng cường bồi dưỡng GV theo cụm trường và quản lý nhà trường ở Việt Nam. Đây là một trong những nghiên cứu vận dụng NCBH. Nhiều trường cũng đã áp dụng hình thức NCBH vào sinh hoạt TCM. Từ năm 2007 đến năm 2009 Đại học Cần Thơ và Đại học Bang Michi-gan, Hoa Kỳ đã tiến hành một nghiên cứu nhằm vận dụng mô hình NCBH vào thực tiễn lớp cấp Tiểu học và THCS ở vùng khó khăn và đã thu được kết quả đáng quan tâm.

QL sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học để nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường thì đã có rất nhiều công trình, nhiều đề tài nghiên cứu của các tác giả như: Tác giả Vũ Hạnh với bài báo khoa học “ Sinh hoạt chuyên môn trong nhà trường phổ thông: Thực trạng và giải pháp. Tác giả Nguyễn Mậu Đức, Hoàng Thị Chiên với bài viết “Đổi mới sinh hoạt chuyên môn của giáo viên thông qua mô hình “Nghiên cứu bài học” ở Việt Nam. [16] Tác giả Nguyễn Văn Ninh với bài viết "Sinh hoạt chuyên môn theo hướng “nghiên cứu bài học” - phương thức để phát triển năng lực dạy học cho giáo viên". Và một số bài viết khác.

Các bài viết này đã đề cập đến lý thuyết của NCBH (khái niệm NCBH, các bước triển khai NCBH, những lợi ích của NCBH và một số khó khăn khi tiến hành nghiên cứu bài học). Tuy nhiên, chưa có bài viết nào đánh giá về thực trạng quản lý SHCM theo NCBH trong các nhà trường hiện nay. 8 download by : skknchat@gmail.com Về đề tài nghiên cứu về công tác quản lý sinh hoạt TCM trong nhà trường phổ thông, có thể kể đến một số đề tài như: - Phạm Khánh Tường (2003), Một số biện pháp quản lý chuyên môn của HT đối với GV mới vào nghề của một số trường THPT ở Hải Phòng, Trong đề tài của mình tác giả đã phân tích lý luận về quản lý chuyên môn của HT các nhà trường, từ đó phân tích thực trạng và đề ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên mới vào nghề ở các trường THPT thành phố Hải Phòng. - Bùi Đức Tấn (2011), Quản lý hoạt động TCM của HT các trường THPT thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục; tác giả Trần Quốc Tuấn (2012), với đề tài: Biện pháp quản lý TCM của HT trường THPT huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục.

Trong đề tài của mình các tác giả đã phân tích chức năng vai trò của HT các nhà trường trong việc quản lý hoạt động của các tổ chuyên môn, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý có ý nghĩa thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng SHCM của các tổ chuyên môn trong các nhà trường. Tóm lại, mỗi đề tài lại đi sâu nghiên cứu một phạm vi, nhưng hầu hết các đề tài nghiên cứu nói trên chỉ đề cập đến vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý TCM của HT và TTCM theo hình thức truyền thống mà chưa có đề tài nào nghiên cứu SHCM theo hướng NCBH. Trong đề tài này, tác giả hệ thống hóa lý luận và nghiên cứu thực trạng để có thể đề xuất các biện pháp tổ chức sinh hoạt CM theo hướng NCBH ở các trường THPT huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Một số khái niệm cơ bản 1.

Quản lý Theo Từ điển Giáo dục học: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) tới khách thể quản lý (người bị quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [38]. 9 download by : skknchat@gmail.com Tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc khẳng định “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng tối đa các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra” [7, tr. Thuật ngữ “Quản lý” lột tả được bản chất của hoạt động này trong thực tiễn, nó bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau, quá trình “Quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”, quá trình “Lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế “phát triển”. Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lấy việc “Quản” làm chính thì tổ chức dễ bị trì trệ, ngược lại nếu chỉ quan tâm đến việc “Lý” thì sự phát triển của tổ chức không bền vững.

Do vậy người quản lý phải luôn xác định và phối hợp tốt, sao cho trong “Quản” phải có “Lý” và trong “Lý” phải có “Quản”, làm cho trạng thái của hệ thống mình quản lý luôn được ở trạng thái cân bằng động [4]. Bản chất của hoạt động quản lý là quá trình tác động có mục đích của nhà quản lý đến tập thể người bị quản lý nhằm đạt mục tiêu của tổ chức/ hệ thống. Thông qua những phương pháp, biện pháp của nhà quản lý làm cho khả năng của mỗi cá nhân trong tổ chức được khai thác cũng như mọi hoạt động trong tổ chức được vận hành một cách tối ưu nhất nhằm đạt mục tiêu của tổ chức. Trên cơ sở nghiên cứu và tham khảo các quan điểm của các học giả trên, tôi hiểu bản chất của QL là: Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất.

Và có thể mô tả bản chất QL thông qua sơ đồ dưới đây: Công cụ Chủ thể quản lý Đối tượng quản lý Phương pháp Hình 1.1: Sơ đồ mô hình quản lý 10 download by : skknchat@gmail.com Trong sơ đồ trên: Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức. Khách thể (đối tượng) quản lý là những con người cụ thể và sự hình thành tự nhiên các quan hệ giữa những con người, giữa các nhóm người khác nhau. Công cụ quản lý và phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý như: Mệnh lệnh, quyết định, chính sách, luật lệ… Phương pháp quản lý được xác định theo nhiều cách khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ