Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí dữ liệu trên báo điện tử ở Việt Nam hiện nay. Chương 2: Thực trạng tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí dữ liệu trên bao điện tu ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Những van dé đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức san xuất sản phẩm báo chí dữ liệu trên báo điện tử ở Việt Nam hiện nay trong thời gian tới. 15 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TO CHỨC SAN XUẤT SAN PHẨM BAO CHÍ DU LIEU TREN BAO ĐIỆN TỬ O VIET NAM HIỆN NAY 1.
Các khái niệm liên quan Báo chí Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử. Báo điện tử Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử. Sản phẩm báo chí Sản phẩm báo chí là ấn phâm, phụ trương của báo in; nội dung hoàn chỉnh của báo điện tử; bản tin thông tan; kênh phát thanh, kênh truyền hình; chuyên trang của báo điện tử. Tổ chức sản xuất “Tổ chức” theo từ gốc Hy Lạp “Organon” nghĩa là “hài hòa”, từ tổ chức nói lên một quan điểm rất tổng quát “đó là cái đem lại bản chất thích nghỉ với sự sống”.
Barnard trong cuốn Organization Theory (lý thuyết tô chức) thì tổ chức là một hệ thống những hoạt động hay nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cách có ý thức” (Xem thêm C. Barnard (1995), Organization Theory, Oxford University Press. Printed in USA.) 16 Theo Harold Koontz, Cyril Odonnell va Heinz, Weihrich trong cuốn Management (sự quản lý, điều hành) năm 1984 thì công tác tổ chức là “việc nhóm gộp các hoạt động cần thiết để đạt được các mục tiêu, là việc giao phó mỗi nhóm cho một người quản lý với quyền hạn cần thiết để giám sát nó, và là việc tạo điều kiện cho sự liên kết ngang và dọc trong cơ cầu của doanh nghiệp” Khi xem xét, sử dụng trong nghiên cứu thuật ngữ “tổ chức” trong truyền thông báo chí, chúng tôi đề cập nó ở hai góc độ sau: Một là, tô chức chỉ một nhóm người, hoạt động cùng một lĩnh vực nghề nghiỆp. Hai là, t6 chức chỉ hoạt động của nhà truyền thông và nhà quản lý báo chí, truyền thông nhằm mục đích tạo ra một sản phẩm báo chí hoàn chỉnh; là một dạng hoạt động nghề nghiệp của nhà báo với các công việc cụ thể như: lên kế hoạch, tổ chức sản xuất nội dung, thiết kế và trình bày báo, in ấn, phát hành.
Trong luận văn này, khái niệm “tô chức” được xem xét theo góc độ thứ hai, trong đó: Tổ chức là khái niệm dùng dé chi quá trình lựa chon, sắp xếp và bồ trí các công việc, giao quyền hạn va phân phối các nguồn lực của nhà truyền thông và nhà quản lý báo chí, truyền thông nhằm mục đích sản xuất một/nhiều sản phẩm báo chí hoàn chỉnh, thực hiện các hoạt động truyền thông một cách hiệu quả nhất. Dữ liệu Theo từ điển chuyên ngành Công nghệ thông tin Tech Dictionary, “dữ liệu” (data) là “Thông tin, có thể ở dạng thô. Thông tin này có thé được nhập vào máy tính và được xử lý bằng nhiễu cách. Khi được đưa vào máy tính, thông tin được mã hóa ở dạng hệ nhị phân — hệ đếm dùng hai ký tự là 0 và 1 dé biếu dat các giá tri” Từ điển chuyên ngành Tin học của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam “Dữ liệu là chất liệu ban đầu của thông tin, thường là các giá trị thông tin định lượng 17 như giá bán của một mặt hàng, số nhà được xây dựng, số người trong một don vị.
Trong tin học, dit liệu được dùng như một cách biểu diễn hình thức hóa của thông tin về các sự kiện, hiện tượng, thích ứng với các yêu câu truyền đưa, thể hiện và xử lý bằng máy tính và hệ máy tính ”. Còn Từ điển Oxford thì định nghĩa: “Dữ liệu (data) là những thông tin được nghiên cứu, phân tích và được sử dụng dé tim ra một vấn dé ẩn gidu trong tập hop thông tin do” hay “Dữ liệu (data) là những thông tin được lưu trữ trong may tinh”. Điểm tương đồng trong các khái niệm được đưa ra từ nhiều nguồn khác nhau là đều cho rằng: Dữ liệu là thông tin và được lưu trữ và xử lý bằng máy tính nhằm một mục đích nao đó. Còn cơ sở dt liệu là tập hợp tài liệu, thông tin liên quan tới phạm vi đề tài nào đó, bao gồm không chỉ các tài liệu văn bản mà còn các loại tranh ảnh, bảng biểu.
Hiện tại, khái niệm cơ sở dữ liệu được hiểu như là tập hợp các tóm tắt, lược thuật được đặt trong bộ nhớ của máy tính, hoặc một hệ thống máy tính, rất tiện lợi khi tìm tài liệu, kế cả tài liệu đầy đủ lẫn các từ khóa. Báo chí dữ liệu Có nhiều định kiến về báo chí dữ liệu. Một số cho rằng nó mang tính chất kỹ thuật, hay toán học, hay điều tra. Song trên thực tế, nó không cần phải thuộc vào một trong những loại đó.
Nhung báo chi dit liệu cũng đứng dang sau mọi bản tin thường ngày, từ bang xếp hạng các trường học đến danh sách những cái tên cho thú cưng phô biến nhất, từ làn sóng mang mặt nạ hề dé hù dọa đến những quán bạn không nên ăn. Chúng được sử dụng cho tivi, báo in và tạp chí — va tat nhiên là cả online. Vâng, báo chí dữ liệu có thể là về số liệu và bảng tính. Nhưng báo chí đữ liệu cũng có thê được dùng bởi những nhà báo ngành âm nhạc, những người đưa tin ngành 18 giải trí và các hãng tin thời trang.
Đôi khi câu chuyện thu được còn chăng đề cập đến một con số nào. Susanna Kempe tại website thời trang WGSN của Emap nói rằng: Báo chí dữ liệu về cơ bản là bất cứ hình thức nào liên quan đến thông tin cấu trúc. Và khi moi thứ đều có trên mạng — từ số liệu chi tiêu của Chính phủ đến thời tiết tháng trước, doanh số một ca khúc, các tin đồn đại ngành thời trang, các kết nối mạng xã hội và kết quả thi dau thé thao — về cơ bản, cả thé giới ở trong tam tay bạn. Nói tóm lại, báo chí dữ liệu có thê áp dụng với bât cứ gì có thông tin trên mạng.
Thông tin ây không chỉ là con sô hay dữ liệu, mà còn cả bình luận và phát biêu, màu sắc và hình ảnh, âm nhạc và video, thậm chí là các kêt nôi xã hội của mọi người với nhau. Hiện tại có nhiều quan niệm khác nhau về báo chí đữ liệu (Data Journalism). Các tác giả trong cuốn “Data Journalism Handbook” (Tam dịch: Số tay về báo chí dit liệu) định nghĩa “báo chí dữ liệu” thông qua cách thức thực hiện: “Nói một cách đơn giản, báo chí dữ liệu là làm báo bằng dữ liệu. Do là kết hợp kiểu thu thập thông tin theo cách truyền thống và khả năng kể một câu chuyện hấp dẫn với những thông tin số quy mô lớn sẵn có.
Nhà báo có thé sử dụng các chương trình dé tự động hóa quy trình thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau hoặc sử dụng phần mềm dé tìm kiếm những môi liên hệ giữa hàng trăm ngàn tài liệu”. Trong bài giảng về báo chí dữ liệu tại Viện Nghiên cứu Truyền thông đại chúng Ấn Độ, Phó Giáo sư Anubhutiyadav có đưa ra khái niệm về báo chí dữ liệu cũng dựa trên cơ sở cách thức thực hiện: “Đó là việc tìm kiếm những câu chuyện trong dữ liệu, là việc sử dụng những con số dé kế một câu chuyện hoặc giải thích một van dé phức tạp, là việc xây dựng những tác phẩm báo chí dựa trên những con số, là việc cung cấp một dịch vụ giúp độc giả khám phá những thông tin mang tính tương tác cá nhân”. 19 Còn Simon Roger (Biên tập viên của tờ The Guardian) — một trong những người tiên phong trong việc phát triển loại hình báo chí dữ liệu trên tờ The Guardia thì cho rằng: “Báo chí dữ liệu thực chat là việc sử dung con số dé ké lại câu chuyện tốt nhất có thé. Báo chí dữ liệu mang lại những câu chuyện bằng cách tiết lộ những con số dang sau các tin tức, nó tích hợp dữ liệu vào quá trình sản xuất tin tức.
Mỗi câu chuyện sẽ có một số dit liệu đi cùng. Báo chí dữ liệu là kết hop các dit liệu được thu thập từ nhiều nguôn khác nhau và sự phân tích của phóng viên”. Trong một bài viết trên trang multiplejournalism.org, các tác giả đưa ra quan điểm dựa trên cách thức xây dựng chuyên mục Datablog của tờ The Guardian — chuyên mục cung cấp những bộ dữ liệu đầy đủ liên quan đến những sự kiện, vấn đề được thông tin: “Báo chí dữ liệu là nỗ lực hệ thống hóa dé tích hợp những nguồn dữ liệu sẵn có và được công khai vào việc tường thuật tin tức”. Nhà báo Lê Quốc Minh — Tổng Biên tập Báo Nhân dân, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam (thời điểm còn làm Tổng Biên tập báo Vietnamplus) trong một bài thuyết trình với chủ đề báo chí dữ liệu môi trường đã đưa ra quan điểm: “Báo chí đữ liệu là loại hình nghệ thuật và cách thức tìm kiếm các câu chuyện bằng dữ liệu.rồi kể lại chúng”.
Trong một cuộc trả lời phỏng vấn với phóng viên Tạp chí Người làm báo bên lề khóa học “Kỹ năng cho báo mạng điện tử” tại Thành phố Hồ Chí Minh do Trung tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí — Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp với Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ tô chức, Giáo sư Mindy McAdams cho rang: “Báo chí dit liệu là sử dung dit liệu dé phát hiện ra những thông tin quan trọng dé viết báo, ví dụ như từ cơ sở dit liệu nhà báo phát hiện ra tỷ lệ tăng học phí của các trường đại học Mỹ lớn hơn tỷ lệ tăng giá nhiên liệu, bất động sản và hàng tiêu dùng. Nhà báo chỉ có thê tìm ra sự thật này sau khu thu thập được bộ cơ sở dữ liệu qua nhiều năm liên tục. Nhà báo có thể lay nguồn dữ liệu từ các cơ quan nha nước hoặc các tô chức quôc tê.