mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả” [34, tr. Như vậy, các quan niệm trên tương đối thống nhất với khái niệm được đề xuất trong từ điển Tiếng Việt về cách hiểu “chương trình”. Quan niệm của PGS.TS Dương Xuân Sơn là sự cụ thể hóa cách hiểu thứ hai về thuật ngữ “chương trình truyền hình” của GS.TS Tạ Ngọc Tấn. Từ các quan điểm trên, có thể tiếp cận khái niệm “chương trình truyền hình” ở các khía cạnh như sau: Từ góc độ kỹ thuật truyền tải thông tin, chương trình truyền hình được xem là một tổng thể logic các chất liệu chứa thông tin trên cơ sở những nguyên tắc phối hợp nhất định để đạt được mục đích đưa ra được thông điệp cụ thể, rõ ràng khi xây dựng chương trình.
Trong cuốn “Sản xuất chương trình truyền hình” của Trần Bảo Khánh, khái niệm “chương trình truyền hình” được hiểu là “kết quả cuối cùng của quá trình giao tiếp với công chúng” [17, tr. Điều này có thể được lý giải là bởi chương trình truyền hình được tiếp nhận bởi các đối tượng công chúng cụ thể. Những thông tin mà nó cung cấp sẽ góp phần làm sâu sắc thêm những tư tưởng, chủ đề và lâu dài sẽ hình thành thói quen trong tư duy và hành động của người tiếp nhận. Các tác phẩm tin, bài phát trên các kênh sóng truyền hình vì thế đòi hỏi phải được lựa chọn, sắp xếp hợp lý để khán giả có thể tiếp nhận chương trình một cách đầy đủ, hệ thống và có chiều sâu.
Mở rộng ra, sự lựa chọn đó bao gồm cả lựa chọn về chủ đề, nội dung và phương pháp thể hiện, phù hợp với tâm lý tiếp nhận của con người. Và chính sự lựa chọn đó sẽ quy định danh mục chương trình được lên sóng trên các đài truyền hình. Từ góc độ vai trò của “chương trình” trong sứ mệnh thông tin của Kênh truyền hình, chương trình được hiểu là “hình thức thể hiện thực tế, là sự vật 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chất hóa sự tồn tại của truyền hình trong xã hội” [40, tr. Chương trình là linh hồn của các đài truyền hình.
Không có chương trình thì cũng không có truyền hình. Cùng với sự phát triển của công nghệ truyền hình, những yêu cầu thông tin từ xã hội, các dạng thức chương trình ngày càng trở nên phong phú. Báo cáo Tổng kết công tác năm 2015 của Bộ Thông tin và Truyền thông nêu rõ: Việt Nam hiện có 66 đài phát thanh, truyền hình, trong đó có 02 đài Trung ương và 64 đài địa phương với tổng số 182 kênh chương trình phát thanh, truyền hình quảng bá. Số lượng đầu mục chương trình cũng tăng lên nhanh chóng.
Để thuận tiện cho công tác quản lý cũng như làm chủ các hoạt động sản xuất chương trình, ngay từ rất sớm, người ta đã quan tâm đến việc phân nhóm chương trình truyền hình. Cho đến nay, tiêu chí để phân loại chương trình truyền hình chưa thống nhất. Tài liệu “Sản xuất chương trình truyền hình” của Trần Bảo Khánh giới thiệu cách phân loại chương trình truyền hình của một số nước phát triển: (1)loại sản xuất trực tiếp với hai tiểu loại là sản xuất trong studio và sản xuất ngoài trời, (2) loại sản xuất có hậu kỳ. Căn cứ vào phương thức sản xuất chương trình, GS,TS.
Tạ Ngọc Tấn phân biệt: chương trình truyền hình trực tiếp, chương trình sản xuất qua băng từ và chương trình phim truyện [37, tr. Theo đó, trong các cách phân chia loại hình chương trình truyền hình, chưa có sự xuất hiện của khái niệm “chuyên đề”. Tuy nhiên, trong thực tế sản xuất, các nhóm chương trình được gọi tên là “chuyên đề” đều đã có mặt trên các kênh sóng truyền hình thế giới cũng như Việt Nam. Cần phải có khái niệm chung nhất về chương trình truyền hình chuyên đề (THCĐ).
Chuyên đề truyền hình Đến thời điểm này, chưa có nhiều nghiên cứu cụ thể về chuyên đề truyền hình. Cắt nghĩa tiếng Việt của từ ngữ trong cụm từ ghép “chuyên đề truyền hình”, 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com theo Từ điển tiếng Việt, “chuyên đề là vấn đề chuyên môn có giới hạn, được nghiên cứu riêng” [30, tr. Như vậy, khái niệm “chuyên đề” được hiểu bao gồm “chuyên” và “đề”. Trong đó “chuyên” là chuyên sâu, chuyên biệt; “đề” là vấn đề, đề tài, chủ đề… Từ phân tích trên có thể thấy: “chuyên đề” là vấn đề chuyên môn, chuyên biệt về một chủ đề, vấn đề nào đó, được biểu hiện thông qua nhiều góc độ, nhằm làm sâu, làm rõ bản chất, sự việc, hiện tượng được nêu ra.
Căn cứ vào mối quan hệ có tính chất nòng cốt của quá trình truyền thông nói chung và truyền hình nói riêng: Cơ quan báo chí (đại diện là nhà báo) – tác phẩm – người tiếp nhận (khán giả), có thể tiếp cận và lý giải sự ra đời tất yếu của chương trình truyền hình chuyên đề từ hai góc độ cơ bản như sau: Thứ nhất, từ phía cơ quan báo chí truyền hình: Cơ quan báo chí nói chung và truyền hình nói riêng là cơ quan ngôn luận của các tổ chức Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội, là diễn đàn của quần chúng nhân dân. Tôn chỉ, mục đích của mỗi cơ quan không hoàn toàn giống nhau. Đó là cơ sở để các Kênh, Đài làm căn cứ lựa chọn và kiện toàn hệ thống chủ đề, vấn đề tuyên truyền, phương thức truyền tải để tạo dựng bản sắc riêng, đáp ứng tôn chỉ, mục đích, đồng thời giữ chân khán giả. Từ đó, cơ cấu tổ chức tối ưu được hình thành, tạo dựng được cơ chế vận hành nhịp nhàng, đảm bảo cho mỗi bộ phận, thành viên trong cơ cấu tổ chức ấy có điều kiện thực hiện tốt nhất các nhiệm vụ được phân công.
Hoạt động của các bộ phận, thành viên như vậy thường được phân công chuyên môn hóa theo các chủ đề, hình thành đội ngũ các PV, BTV tác nghiệp theo các chuyên đề. Như vậy, chuyên đề truyền hình là khái niệm chỉ nhiệm vụ chuyên môn của nhà báo trong việc nắm bắt và phản ánh các chủ đề, lĩnh vực chuyên môn thực tiễn theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí. Thứ hai, từ phía công chúng tiếp nhận: Một sản phẩm báo chí không chỉ thỏa mãn nhu cầu thông tin của một cá nhân mà của nhiều người, tùy theo cấp độ thông tin và tính chất xã hội của nó. Chính nhu cầu thông tin của các đối 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tượng khán giả đã hình thành nên những nhóm đối tượng công chúng ổn định trong việc hướng tới và tiếp nhận thông tin từ các chương trình truyền hình.
Sự hình thành của các nhóm công chúng này đã tác động trở lại cơ quan báo chí, làm cho cấu trúc thông tin trong các sản phẩm báo chí có sự định hướng rõ rệt, phục vụ cho các nhóm đối tượng, công chúng khác nhau, hình thành hệ thống chương trình chuyên đề. Như vậy, chuyên đề truyền hình là khái niệm dùng để chỉ cách thức cấu trúc thông tin về các mặt, các lĩnh vực, vấn đề thực tiễn mà Đài truyền hình phản ánh phục vụ các nhóm đối tượng chuyên biệt. Trên cơ sở những phân tích trên, khái niệm “chương trình truyền hình chuyên đề” có thể được hiểu: là chuỗi tác phẩm truyền hình được phát sóng định kỳ, có nội dung chuyên sâu, chuyên biệt về một chủ đề, vấn đề, đề tài nào đó, được phản ánh trên quan điểm, lập trường của cơ quan báo chí và hướng tới một đối tượng công chúng xác định. Chương trình chuyên đề truyền hình được phân biệt với các nhóm chương trình khác bằng những đặc trưng cụ thể.
Trước hết, đó là tính “chuyên sâu”. Bản thân khái niệm “chuyên” đã bao hàm đặc trưng này của chương trình THCĐ. Nó thể hiện ở quá trình tập hợp và phản ánh thông tin một cách đa chiều về cùng một chủ đề, hoặc nhóm chủ đề nội dung. Đây cũng được đánh giá là thế mạnh của chương trình THCĐ trong bối cảnh hiện nay, khi mà sự bùng nổ thông tin theo chiều rộng với sự có mặt của đa loại hình phương tiện truyền thông và sự phát triển của số lượng kênh thông tin và áp lực cạnh tranh cũng đồng thời kéo theo sự giảm sút về chất lượng thông tin.
Trong khi đó, THCĐ có khả năng đi sâu phân tích, đánh giá đa chiều, lý giải sâu rộng về các vấn đề được xã hội quan tâm. Nó không cập nhật bằng thời sự, nhưng hàm lượng thông tin cao hơn rất nhiều. Hơn thế, nó còn thể hiện rõ ràng nhất ý kiến, thái độ, quan điểm của nhóm tác giả và người làm truyền hình, từ đó tăng tính thuyết phục của thông tin. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đặc trưng thứ hai của chương trình THCĐ, đó là tính “định kỳ”.
“Kỳ” được hiểu là khoảng thời gian giữa hai thời điểm diễn ra cùng một sự việc. Định kỳ cũng là đặc trưng chung của báo chí và báo chí truyền hình. Theo đó, các chương trình truyền hình phải tuân thủ theo nguyên tắc định kỳ, tức là phát sóng theo thời điểm (hằng ngày, hằng tuần, hằng tháng…) trong khung phát sóng đã được cố định của một kênh, hoặc đài truyền hình. Các chương trình được khống chế bởi khung thời lượng (thông thường từ 3 đến 30 phút).
Tần suất phát sóng (hay định kỳ phát sóng) sẽ được quyết định bởi mục tiêu, đặc điểm, định hướng của kênh sóng. Nếu thời sự là chương trình phát sóng hằng giờ, hoặc hằng ngày thì định kỳ phát sóng của chương trình chuyên đề sẽ dài hơn: hằng ngày, hằng tuần, hay hằng tháng. Tính định kỳ có giá trị chỉ dẫn, tạo thói quen cho khán giả trong tiếp nhận. Tuy nhiên, chính nó lại gây ra sự gò bó trong sáng tạo và khả năng tiếp nhận của công chúng, nhất là trong điều kiện có quá nhiều kênh thông tin như hiện nay.
Đặc trưng thứ ba của chương trình THCĐ là đối tượng công chúng được xác định. Nhắc đến công chúng truyền hình, người ta thường nhắc đến số đông rời rạc, không thuần nhất, phân tán. Điều này hoàn toàn đúng nếu nhìn nhận từ góc độ không gian tồn tại của họ. Tuy nhiên, nếu xét về quan hệ xã hội, họ được liên kết với nhau bằng việc chung những mối quan tâm nhất định.
Và những mối quan tâm đó đã trở thành sợi dây liên kết họ lại với nhau, hình thành những nhóm khán giả đặc thù chuyên theo dõi một chương trình chuyên đề cụ thể.