CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Mô hình lớp học đảo ngược 1. Tình hình nghiên cứu và vận dụng mô hình lớp học đảo ngược a) Trên thế giới Mô hình LHĐN manh nha xuất hiện từ những năm 20 của thế kỉ XX. Eric Mazur – nhà giáo, nhà vật lý học người Mỹ đã sử dụng máy tính trong giảng dạy, giúp ông hướng dẫn học viên mà không cần phải diễn thuyết và thay vì giảng bài ông thường xuyên trao đổi, thảo luận với các sinh viên.
Từ những năm 90 của thế kỉ XX, khái niệm “đảo ngược” lớp học dần xuất hiện trong những bài viết, bài phát biểu, công trình nghiên cứu. Năm 1993, trên tạp chí “Dạy học đại học” tập 41, số 1 (Winter, 1993), tác giả Alison King có bài viết “From sage on the stage to guide on the side”, trong đó nhấn mạnh việc giáo viên cần sử dụng thời gian ở lớp để tổ chức cho học sinh tìm hiểu ý nghĩa của bài học hơn là truyền đạt thông tin [17]. Hay phải kể đến, năm 1997, Giáo sư Đại học Harvard, Eric Mazur đã xuất bản một cuốn sách có tựa đề “Peer Instruction: A User's Manual”, trong đó ông nhận thấy rằng cách tiếp cận của mình, giúp chuyển thông tin ra khỏi lớp học và đồng hóa thông tin vào lớp học, cho phép ông hướng dẫn học sinh cách học thay vì giảng bài [16]. Năm 2000, Lage, Platt và Treglia đã xuất bản một bài báo có tựa đề "Inverting the Classroom: A Gateway to Creating an Inclusive Learning Environment" (Đảo ngược lớp học: Cánh cổng tạo ra môi trường học tập hòa nhập), trong đó thảo luận về nghiên cứu của họ về các LHĐN ở cấp độ đại học.
Lage, Platt và Treglia khẳng định rằng người ta có thể tận dụng thời gian trên lớp nhờ việc đảo ngược lớp học (chuyển việc trình bày thông tin qua bài giảng ra khỏi lớp học nhờ các phương tiện như máy tính hoặc VCR) để đáp ứng nhu cầu của sinh viên với nhiều phong cách học tập đa dạng [18]. Vào cuối những năm 1990, J. Wesley Baker cũng thử nghiệm những ý tưởng tương tự tại Đại học Cedarville. Ông đã 6 trình bày một bài báo về điều mà ông gọi là "lật lớp học" tại một hội nghị giáo dục vào năm 2000, có thể đây là lần đầu tiên đề cập đến từ "lật" gắn với mô hình dạy và học này [15].
Tại Mỹ, mô hình LHĐN (flipped classroom) phát triển mạnh hay thuật ngữ “Flipped Learning” trở nên thông dụng từ khoảng những năm 2000 đến nay. Điều này phải kể đến công của hai giáo viên hóa học Jon Bergman, Aaron Sams và nhà sáng lập Khan Academy, Salman Khan. Năm 2004, để phụ đạo thêm cho người em sống ở một bang khác, Khan bắt đầu ghi hình bài giảng của mình thành các video. Những video này sẽ giúp người học bỏ qua những phân đoạn đã nắm vững và phát lại những phần gặp khó khăn.
Đây là một dạng của LHĐN. Năm 2004, Tenneson và McGlass đưa ra khái niệm về LHĐN trong dạy học thực tế. Năm 2007, hai giáo viên hóa học Jonathan Bergmann và Aaron Sams của trường trung học Woodland Park ghi lại bài giảng của mình và đăng tải lên mạng Internet cho những học sinh không tham gia được buổi học. Các bài học trực tuyến phát triển mạnh, rộng rãi và Bergmann và Sams đã được mời nói chuyện với giáo viên trên toàn nước Mỹ về phương pháp này.
Họ khẳng định rằng không có cách nào “đúng” để “lật” một lớp học vì các phương pháp tiếp cận và phong cách giảng dạy rất đa dạng, cũng như nhu cầu của các trường học. Họ tiếp tục phát triển mô hình “Flipped-Mastery”, bằng việc giáo viên sử dụng các video được ghi lại để dạy sinh viên không tham gia trực tiếp, bên cạnh đó dành thời gian trên lớp cho việc thảo luận và làm các bài tập để lĩnh hội và mở rộng kiến thức. Vào năm 2011, các nhà giáo dục ở trường trung học Clintondale ở Michigan đã áp dụng mô hình lớp học đảo ngược vào dạy học thực tế. Trước hết với các môn xã hội, họ tiến hành nghiên cứu và so sánh giữa hai lớp học với tài liệu và bài tập giống hệt nhau, một lớp theo mô hình LHĐN và một lớp theo mô hình truyền thống.
Kết quả sau 20 tuần, học sinh trong lớp theo mô hình LHĐN đã vượt trội hơn học sinh trong lớp học truyền thống. Hơn nữa, 7 không có học sinh nào trong các LHĐN đạt điểm thấp hơn C+, trong khi học kỳ trước 13% đã trượt. Năm tiếp theo khi các giáo viên sử dụng mô hình LHĐN ở lớp 9, tỷ lệ trượt trong các môn học tiếng anh, toán, khoa học và xã hội đã giảm đáng kể, đã giảm từ 30% xuống 10% vào năm 2011 [19]. Trên trang báo điện tử của news.vn [22] giới thiệu mô hình LHĐN ở Mỹ.
Tháng 5/2014, Sophia Learning và Flipped Learning Network tiến hành một cuộc khảo sát và chỉ ra rằng số lượng giáo viên áp dụng mô hình Flipped Classroom trong giảng dạy ở Mỹ trong năm 2014 tăng lên 78%, so với 48% vào năm 2012. Trong cuộc khảo sát này, các giáo viên đồng ý rằng mô hình này giúp thái độ học tập của HS trong lớp được cải thiện rất nhiều và điểm số của HS cũng tăng lên 67% so với cách học truyền thống. Một cuộc khảo sát khác, Speak Up năm 2013, với số lượng 180000 học sinh trung học tham gia thì có tới 3/4 trong tổng số học sinh tham gia cũng đồng ý rằng Flipped Classroom mang lại hiệu quả học tập cao hơn so với mô hình lớp học truyền thống. Với những ưu điểm kể trên, mô hình Flipped Classroom được nhiều cơ sở giáo dục ở Mỹ áp dụng trong giảng dạy, tập trung chủ yếu ở các bậc trung học và đại học [20].
Kể từ khi ra đời, mô hình LHĐN là một phương án tốt dành cho bài toán làm cách nào để có thể tăng thời gian hỗ trợ của GV vào những thời điểm HS cần được hỗ trợ để đào sâu kiến thức, tư duy bậc cao. Chính vì vậy, mô hình LHĐN được nghiên cứu và ứng dụng tại nhiều cơ sở giáo dục trên thế giới từ cấp trung học đến đại học. b) Ở Việt Nam Lớp học đảo ngược có thể được xem một chủ đề được quan tâm trong các trường dạy học ngày nay. Do ảnh hưởng của dịch bệnh, hai năm qua nhiều địa phương thực hiện dạy và học trực tuyến hoặc qua truyền hình.
Tình huống này gây khó khăn cho học sinh, giáo viên nhưng là cơ hội để thực hiện mô hình lớp học đảo ngược. Mô hình LHĐN đã và đang được áp dụng rộng rãi cho nhiều đối tượng, 8 đặc biệt là sinh viên ở bậc đại học và cao đẳng. Việc tích hợp mô hình lớp học đảo ngược với các phương pháp dạy học tích cực như dạy học dự án không những giúp sinh viên tìm hiểu sâu kiến thức, có sự hứng thú trong việc tìm hiểu bài mà còn giúp sinh viên phát huy được các năng lực, kĩ năng khác. Mô hình LHĐN cũng nhận được sự quan tâm của nhiều GV, nhà giáo dục đến việc áp dụng ở phổ thông, tuy nhiên vẫn là một mô hình khá mới mẻ.
Một số cơ sở giáo dục đi đầu đưa LHĐN vào giảng dạy như FPT (từ khoảng năm 2014), Trung tâm Anh ngữ Apollo, trang web giáo dục trực tuyến như Zuni.vn và một số cơ sở khác như Anh ngữ Việt Mỹ VATC, trường liên cấp Olympia, hệ thống trường Vinschool, trường THCS Đức Trí, THPT Trần Khai Nguyên, …. Vài năm trở lại đây, một số cơ sở bắt đầu bước vào giai đoạn thí điểm xây dựng một số tiết học theo mô hình LHĐN và định hướng áp dụng sâu rộng cho nhiều lớp, nhiều tiết học. Khi đại dịch Covid-19 đến, việc học tập online trở thành phương thức chính trên cả nước thì LHĐN lại càng có cơ hội được nghiêm túc nghiên cứu và mở rộng. Ví dụ như trong giai đoạn này, từ năm học 2019 – 2020, trường Tiểu học và THCS Olympia, Hà Nội nhanh chóng đẩy mạnh sử dụng mô hình LHĐN.
Học sinh nắm vai trò trung tâm và tự nghiên cứu kiến thức trước giờ lên lớp. Giai đoạn 1 của mô hình này, giáo viên gửi trước nội dung bài giảng, gợi ý các tài liệu, các kênh thông tin tham khảo để học sinh tự học. Vấn đề nào không làm được, học sinh điền vào mẫu mà giáo viên đã gửi sẵn qua email. Giai đoạn 2 ở trên lớp học, giáo viên giải thích kỹ hơn cùng học sinh nắm những lý thuyết cơ bản.
Chuyển sang giai đoạn 3, áp dụng lý thuyết vừa học vào bài tập cụ thể. Cụm từ “lớp học đảo ngược” được tìm thấy nhiều trong các bài viết trên các diễn đàn, tạp chí khoa học giáo dục, trang thông tin của các trường hoặc các cơ sở giáo dục. Bên cạnh đó cũng đã có các nghiên cứu của giảng viên các trường đại học hoặc các luận văn thạc sĩ xây dựng bài dạy theo mô hình lớp 9 học đảo ngược. Điều đó cho thấy những bước đầu xây dựng cơ sở lí luận và thực tiễn cho mô hình này tại Việt Nam đang được quan tâm hơn.
Tác giả Nguyễn Hoài Nam, Vũ Thái Giang đã giới thiệu nội hàm lớp học đảo trình dựa trên các lý thuyết học tập và đề xuất mô hình LHĐN trong bồi dưỡng kỹ năng công nghệ thông tin cho sinh viên sư phạm. Tác giả đã giới thiệu tiến trình áp dụng LHĐN gồm 4 bước (Phân tích → Thiết kế → Tổ chức/vận hành → Đánh giá/thu nhận phản hồi) và phân tích tính khả thi, nhấn mạnh vai trò chủ động, tích cực của người học [9]. Tuy nhiên, tác giả lại chưa làm nổi bật được tính chất “đảo ngược” trong quy trình này. Tác giả Nguyễn Quốc Vũ, Lê Thị Minh Thanh, giới thiệu khả năng ứng dụng việc dạy học với mô hình LHĐN trong dạy học chuyên đề kĩ thuật số theo 3 bước là trước giờ học trên lớp, trong giờ học trên lớp, sau giờ học trên lớp ở trường Đại học Đồng Tháp.
Nghiên cứu đã cho thấy mô hình này nâng cao kết quả học tập và giúp sinh viên phát triển năng lực tư duy sáng tạo và tạo được hứng thú học tập cho sinh viên. Vận dụng mô hình LHĐN nhằm phát triển năng lực và năng lực tự học cho HS được đánh giá là khá hiệu quả trong dạy học một số môn học trường phổ thông.