Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ công nghiệp. - Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng tổ chức lãnh thổ công nghiệp tỉnh Thái Nguyên. - Chương 3: Định hướng và giải pháp tổ chức lãnh thổ công nghiệp tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP 1.
Các quan niệm về tổ chức lãnh thổ kinh tế và tổ chức lãnh thổ công nghiệp 1. Khái niệm về tổ chức lãnh thổ kinh tế Tổ chức lãnh thổ hay tổ chức không gian các hoạt động phát triển của con người, trước hết là các hoạt động kinh tế là một khái niệm rộng, bắt nguồn từ những cơ sở lý thuyết kinh tế của Adam Smith và David Ricardo, từ các công trình nghiên cứu của Thunen (1826), Weber (1909)…sau đó được phát triển về mặt lí luận và ứng dụng thực tiễn vào những năm 50 của thế kỉ XX tại các nước châu Âu, Liên Xô (cũ) và Mỹ. Theo đó, tổ chức là việc sắp xếp các đối tượng (xí nghiệp, công trình, các ngành, các lĩnh vực, các điểm dân cư, kết cấu hạ tầng), còn lãnh thổ là địa bàn để tổ chức, sắp xếp các đối tượng, có ranh giới xác định. Việc tổ chức được tiến hành trên một lãnh thổ xác định theo yêu cầu phát triển KTXH.
[26] Bàn về khái niệm tổ chức lãnh thổ, các nhà khoa học Địa lí thuộc các trường phái khác nhau cũng có quan niệm khác nhau. Các nhà khoa học Liên Xô cũ thường sử dụng khái niệm phân bố lực lượng sản xuất; họ coi phân bố lực lượng sản xuất là sự sắp xếp, bố trí và phối hợp các đối tượng hay thực tế vật chất cụ thể; hay nói cách khác đó là sự sắp xếp, bố trí và phối hợp các đối tượng có mối liên hệ qua lại giữa các hệ thống sản xuất, hệ thống tự nhiên và hệ thống dân cư nhằm sử dụng hợp lí các nguồn lực để đạt hiệu quả cao về kinh tế, xã hội, môi trường. Các nhà khoa học phương Tây lại sử dụng thuật ngữ tổ chức không gian kinh tế - xã hội; theo họ, tổ chức không gian là sự “thiết lập” trật tự kinh tế, xã hội và môi trường trong phạm vi một lãnh thổ xác định; tổ chức không gian như nghệ thuật kiến thiết và sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn và có hiệu quả. Ở Việt Nam, tổ chức lãnh thổ cũng được quan tâm nghiên cứu.
Đi đầu trong lĩnh vực này là các nhà khoa học thuộc Ủy ban Phân vùng kinh tế Trung ương nay thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Trong báo cáo “Địa lí học Việt Nam và thử nghiệm tổ chức lãnh thổ”, GS Lê Bá Thảo cho rằng “về khía cạnh địa lí, có thể coi tổ chức lãnh thổ là một hành động của địa lí học có chủ ý, hướng tới một sự cân bằng về mặt không gian”. 9 Tổng hợp các quan điểm, có thể nói tổ chức lãnh thổ là sự tìm kiếm, lựa chọn một sự phân bố tối ưu, tránh sự mất cân đối trên lãnh thổ quốc gia hay một vùng, một lãnh thổ cụ thể. Tổ chức hoạt động kinh tế chính là tổ chức của con người, các quá trình sản xuất kinh doanh gắn với tự nhiên và xã hội, nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người và xã hội trong mối quan hệ chặt chẽ với môi trường sinh thái.
TCLTKT chịu tác động đồng thời, tổng hợp của các yếu tố chủ quan và khách quan. Thông qua các quy luật vận động và phát triển của các hoạt động kinh tế theo không gian và thời gian nhất định, con người đưa ra các phương án TCLTKT, sau đó cân nhắc và lựa chọn phương án tối ưu nhất. Khái niệm về tổ chức lãnh thổ công nghiệp TCLTCN là một trong những hình thức tổ chức của nền sản xuất xã hội theo lãnh thổ. Thuật ngữ TCLTCN ngày càng được sử dụng rộng rãi trong các tài liệu khoa học và thực tiễn.
Khơrusôv (1979), TCLTCN được hiểu là hệ thống các mối liên kết không gian của các ngành và các kết hợp sản xuất lãnh thổ khác nhau trên cơ sở sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên, vật chất, lao động cũng như tiết kiệm chi phí để khắc phục sự không phù hợp đã xuất hiện trong lịch sử về việc phân bố các nguồn nguyên nhiên liệu, năng lượng, nơi sản xuất và nơi tiêu thụ sản phẩm, góp phần đạt hiệu quả kinh tế cao. [15] Ở nước ta, số lượng các công trình nghiên cứu về TCLTCN không nhiều. Tuy nhiên, TCLTCN có thể được coi là việc bố trí hợp lí các cơ sở sản xuất công nghiệp, các cơ sở phục vụ cho hoạt động công nghiệp, các điểm dân cư, cùng cơ cấu hạ tầng trên phạm vi một lãnh thổ nhất định, nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên trong cũng như bên ngoài của lãnh thổ đó. Trong những năm gần đây, Nhà nước đã triển khai các quy hoạch tổng thể.
Giữa quy hoạch tổng thể và tổ chức lãnh thổ có sự khác nhau rõ rệt. Quy hoạch tổng thể 10 (ngành hoặc lãnh thổ) thường bao gồm các nội dung ở tầm vĩ mô như đánh giá các nguồn lực (tự nhiên, KTXH), phân tích hiện trạng và đưa ra các định hướng phát triển trong khoảng thời gian 10 - 20 năm tới. Ngoài ra nó còn được hiểu theo một nghĩa khác. Đó là các sơ đồ sử dụng mặt bằng của một không gian nào đó phục vụ cho mục đích thiết kế xây dựng.
Quy hoạch tổng thể theo nghĩa đầu tiên, mang tính chất tập hợp các kế hoạch phát triển, thường là các ngành, trên một lãnh thổ cụ thể (quốc gia, tỉnh, huyện). Theo nghĩa thứ hai, thực chất đó là quy hoạch mặt bằng (đô thị, KCN). TCLTCN là việc tìm ra các mối liên kết không gian, là việc bố trí hợp lí các cơ sở kinh tế trên một lãnh thổ nhất định. Nói cách khác, đây là việc định vị các xí nghiệp, các KCN, CCN để tạo nên các không gian công nghiệp thuộc các cấp khác nhau, đồng thời đây cũng là sự định vị các ngành công nghiệp trên cơ sở các lợi thế so sánh của từng lãnh thổ cho đạt hiệu quả cao về các mặt KTXH và môi trường.
Các nhân tố ảnh hưởng tới tổ chức lãnh thổ công nghiệp [15] [25] [26] 1. Nhân tố bên trong a) Vị trí địa lí Vị trí địa lí được coi là “tài sản vô hình”. Vị trí địa lí bao gồm vị trí tự nhiên, kinh tế, chính trị. Vị trí địa lí có vai trò rất quan trọng trong việc định vị các ngành công nghiệp, các hình thức TCLTCN.
Hầu hết những nơi tập trung các hoạt động sản xuất công nghiệp đều có vị trí thuận lợi như gần đường giao thông huyết mạch, sân bay, cảng biển, nguồn nước, khu vực tập trung đông dân cư. Trong bối cảnh hội nhập, vị trí địa lí còn có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế và giao lưu trong khu vực. Vị trí địa lí càng thuận lợi thì mức độ tập trung công nghiệp càng cao, các hình thức TCLTCN càng đa dạng và phức tạp. Ngược lại, những nơi vị trí địa lí kém thuận lợi, sẽ gây trở ngại cho việc xây dựng và phát triển công nghiệp, hạn chế trong thu hút đầu tư nước ngoài.
b) Nhóm nhân tố tự nhiên + Khoáng sản là một trong những nguồn lực tự nhiên hàng đầu ảnh hưởng tới TCLTCN, nó được coi là “bánh mì” của ngành công nghiệp. Số lượng, trữ lượng, chất lượng, điều kiện khai thác và sự kết hợp các loại khoáng sản theo lãnh thổ sẽ chi phối quy mô, cơ cấu và tổ chức các xí nghiệp công nghiệp trên lãnh thổ. Những nơi 11 tập trung các mỏ khoáng sản là điều kiện cho việc hình thành và phát triển trước hết các cơ sở khai khoáng, hay định vị các ngành công nghiệp có định hướng khoáng sản, và các ngành công nghiệp chế biến sử dụng nhiều nguyên, nhiên liệu với chi phí vận tải lớn như ngành luyện kim đen, nhiệt điện than, sản xuất xi măng. + Nguồn nước có ý nghĩa lớn đối với các ngành sản xuất, trong đó có công nghiệp.
Mức độ thuận lợi hay khó khăn về nguồn cung cấp hoặc thoát nước là điều kiện quan trọng để định vị các xí nghiệp công nghiệp. Nhiều xí nghiệp công nghiệp của các ngành công nghiệp được phân bố gần nguồn nước như: các xí nghiệp luyện kim, dệt may, hóa chất, chế biến lương thực thực phẩm… + Khí hậu cũng có ảnh hưởng nhất định đến TCLTCN, nó chi phối việc lựa chọn kỹ thuật và công nghệ sản xuất. Ở khía cạnh khác khí hậu đa dạng, phức tạp cũng làm xuất hiện những tập đoàn cây trồng, vật nuôi đặc thù. Đó là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm.
+ Các nhân tố tự nhiên khác: có tác động nhất định tới sự phát triển và phân bố các hình thức TCLTCN như đất đai, đặc điểm địa chất, tài nguyên sinh vật, tài nguyên biển. Về mặt tự nhiên, đất ít có giá trị đối với công nghiệp, nhưng đây là nơi xây dựng, phát triển và phân bố công nghiệp, các khu vực tập trung công nghiệp. Quỹ đất dành cho công nghiệp và các điều kiện địa chất công trình có ảnh hưởng tới quy mô hoạt động và vốn thiết kế cơ bản. Sự phong phú và đa dạng về tài nguyên sinh vật, tài nguyên biển là nguồn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
Rừng và hoạt động lâm nghiệp cung cấp vật liệu xây dựng (gỗ, tre, nứa) nguyên liệu cho công nghiệp giấy, chế biến gỗ và các ngành tiểu thủ công nghiệp; dược liệu cho công nghiệp dược phẩm; nguồn lợi thủy hải sản là nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thủy sản. c) Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội + Dân cư và nguồn lao động Dân cư với những tập quán sản xuất, tiêu dùng và nguồn lao động (số lượng, chất lượng) có vai trò to lớn trong việc TCLTCN, đây là nhân tố quan trọng hàng đầu cho sự phát triển và phân bố công nghiệp. Về phương diện này, dân cư được xem xét dưới hai góc độ: sản xuất và tiêu dùng. 12 Ở nơi nào có nguồn lao động phong phú thì ở đó có khả năng để phát triển và phân bố các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động.
Những nơi có đội ngũ lao động lành nghề thường cho phép phát triển các xí nghiệp công nghiệp đòi hỏi tay nghề cao và sản xuất ra các sản phẩm chứa đựng hàm lượng kỹ thuật lớn.