phần mở đầu và kết luận, bài khóa luận gồm 3 chƣơng : Chƣơng 1: Lý luận chung về tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất. Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cổ phần dƣợc liệu và vật tƣ y tế Hải Phòng. Chƣơng 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cổ phần dƣợc liệu và vật tƣ y tế Hải Phòng Sinh viên: Lê Thị Thu Hƣờng – QTL502K 3 Khóa luận tốt nghiệp CHƢƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất.
Quá trình sản xuất kinh doanh là sự kết hợp của 3 yếu tố: Đối tƣợng lao động, tƣ liệu lao động và lao động con ngƣời, đồng thời lại tiêu hao chính những yếu tố đó. Để tồn tại và phát triển thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải đƣợc duy trì liên tục, ngoài các yếu tố trên còn phải đầu tƣ cho các khoản chi phí nhất định khác nhƣ chi phí dịch vụ, chi phí khác bằng tiền… Các khoản chi phí đó phát sinh một cách thƣờng xuyên, luôn vận động và thay đổi trong quá trình sản xuất kinh doanh. Do đó, để đáp ứng nhu cầu quản lý chi phí, những hao phí doanh nghiệp đã chi ra đều đƣợc biểu hiện qua thƣớc đo giá trị hay còn gọi là thƣớc đo tiền tệ. Nhƣ vậy, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa cùng với các chi phí khác để sản xuất chế tạo sản phẩm, công việc, lao vụ mà doanh nghiệp đã chi ra cho quá trình sản xuất trong một kỳ sản xuất nhất định.
Chi phí sản xuất đƣợc hình thành do có sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố sản xuất vào sản phẩm sản xuất ra. Về mặt định tính, đó là sự tiêu hao các yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm. Về mặt định lƣợng, đó là giá cả các yếu tố vật chất tham gia vào quá trình sản xuất 1. Bản chất và chức năng giá thành sản phẩm.
Bản chất giá thành sản phẩm Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối lƣợng công tác, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành. Quá trình sản xuất là một quá trình thống nhất bao gồm 2 mặt hao phí sản xuất và mặt kết quả sản xuất. Tất cả những khoản chi phí (phát sinh trong Sinh viên: Lê Thị Thu Hƣờng – QTL502K 4 Khóa luận tốt nghiệp kỳ, kỳ trƣớc chuyển sang) và các chi phí trích trƣớc có liên quan đến khối lƣợng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ, đã hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm. Nói cách khác, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra bất kể ở kỳ nào nhƣng có liên quan đến khối lƣợng công việc, sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ.
Chức năng giá thành sản phẩm Chức năng của giá thành là là chức năng bù đắp chi phí và chức năng lập giá. - Chức năng bù đắp chi phí: Giá thành biểu hiện cho những hao phí vật chất mà doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Những hao phí đó cần đƣợc bù đắp một cách đầy đủ trong quá trình tái sản xuất, hay nói cách khác là tiêu thụ đƣợc sản phẩm và có lãi. - Chức năng lập giá: Giá cả là biểu hiện mặt giá trị của sản phẩm, nó bù đắp hao phí vật chất dùng để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, nên khi xây dựng giá cả phải căn cứ vào giá thành.
Phân loại chi phí sản xuất. Chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp bao gồm nhiều loại có nội dung, tính chất và công dụng kinh tế khác nhau, yêu cầu quản lý đối với từng loại chi phí cũng khác nhau. Do đó, muốn tập hợp và quản lý tốt chi phí tất yếu phải phân loại chi phí. Việc phân loại chi phí sản xuất một cách khoa học và hợp lý có ý nghĩa rất quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà quản trị kiểm tra phân tích chi phí, thúc đẩy việc quản lý chặt chẽ chi phí để hƣớng tới tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Về mặt hạch toán, chi phí sản xuất thƣờng đƣợc phân theo các tiêu thức sau đây: 1. Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí Căn cứ vào nội dung, tính chất của chi phí, chi phí sản xuất đƣợc chia thành 5 yếu tố: - Chi phí nguyên vật liệu: Giá trị nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế… sử dụng cho kinh doanh trong kỳ. Sinh viên: Lê Thị Thu Hƣờng – QTL502K 5 Khóa luận tốt nghiệp - Chi phí nhân công: Gồm tiền lƣơng, các khoản trích theo lƣơng (BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ), phải trả khác cho công nhân, viên chức trong kỳ. - Chi phí khấu hao tài sản cố định: Là giá trị hao mòn của tài sản cố định sử dụng cho kinh doanh trong kỳ.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Tiền nƣớc, tiền điện, tiền điện thoại, thuê mặt bằng… sử dụng cho kinh doanh trong kỳ. - Chi phí khác bằng tiền: Chi phí tiếp khách, hội nghị… sử dụng cho kinh doanh trong kỳ. Với cách phân loại này, các nhà quản trị biết đƣợc cơ cấu, tỷ trọng từng yếu tố chi phí, là cơ sở để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, dự toán chi phí sản xuất, xây dựng kế hoạch cung ứng các yếu tố cho sản xuất… 1. Phân theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm.
Căn cứ theo mục đích, công dụng của chi phí đối với quá trình sản xuất, chế biến sản phẩm, chi phí sản xuất đƣợc chia thành các khoản mục sau: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiêu liệu…. sử dụng trực tiếp để sản xuất sản phẩm. - Chi phí nhân công trực tiếp: Là tiền lƣơng, các khoản trích theo lƣơng (BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ), phải trả cho công nhân sản xuất. - Chi phí sản xuất chung: Gồm những khoản chi phí vật liệu gián tiếp, công cụ dụng cụ, tiền lƣơng nhân viên quản lý phân xƣởng, khấu hao tài sản cố định dùng cho sản xuất….
Theo cách này, doanh nghiệp dễ dàng xác định đƣợc giá thành sản phẩm, đó là căn cứ để phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và hạ giá thành sản phẩm cũng nhƣ tình hình thực hiện các định mức, dự toán chi phí nhằm hạ giá thành sản phẩm, nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp. Sinh viên: Lê Thị Thu Hƣờng – QTL502K 6 Khóa luận tốt nghiệp 1. Phân loại giá thành sản phẩm. Để đáp ứng yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hóa giá thành cũng nhƣ yêu cầu xây dựng giá cả hàng hóa, giá thành đƣợc xem xét dƣới nhiều góc độ, nhiều phạm vi tính toán khác nhau.
Theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành. Giá thành đƣợc chia thành giá thành kế hoạch, giá thành định mức và giá thành thực tế: - Giá thành kế hoạch: giá thành kế hoạch đƣợc xác định trƣớc khi bƣớc vào kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trƣớc và các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch. - Giá thành định mức: cũng nhƣ giá thành kế hoạch, giá thành định mức cũng đƣợc xác định trƣớc khi bắt đầu sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên, khác với giá thành kế hoạch đƣợc xây dựng trên cơ sở các định mức bình quân tiên tiến và không biến đổi trong suốt kỳ kế hoạch, giá thành định mức lại đƣợc xây dựng trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch (thƣờng là ngày đầu tháng) nên giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí đạt đƣợc trong quá trình sản xuất sản phẩm.
- Giá thành thực tế: giá thành thực tế là chỉ tiêu đƣợc xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm trên cơ sở các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm. Theo phạm vi phát sinh chi phí. Giá thành đƣợc chia thành giá thành sản xuất và giá thành tiêu thụ: - Giá thành sản xuất (giá thành công xƣởng): là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xƣởng, bộ phận sản xuất, bao gồm chi phí vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. - Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ): là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm (chi phí Sinh viên: Lê Thị Thu Hƣờng – QTL502K 7 Khóa luận tốt nghiệp sản xuất, quản lý và bán hàng).
Do vậy, giá thành tiêu thụ còn gọi là giá thành đầy đủ hay giá thành toàn bộ và đƣợc tính theo công thức: Giá thành toàn Chi phí tiêu Giá thành sản Chi phí quản lý bộ của sản = + + thụ sản xuất sản phẩm doanh nghiệp phẩm tiêu thụ phẩm 1. Đối tƣợng hạch toán chi phí sản xuất, đối tƣợng tính giá thành sản phẩm và kỳ tính giá thành sản phẩm. Đối tƣợng hạch toán chi phí sản xuất và đối tƣợng tính giá thành sản phẩm. Để hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đƣợc chính xác, kịp thời, đòi hỏi công việc đầu tiên mà nhà quản lý phải làm là xác định đối tƣợng hạch toán chi phí sản xuất và đối tƣợng tính giá thành sản phẩm.
Vấn đề này có tầm quan trọng đặc biệt cả trong lý luận cũng nhƣ thực tiễn hạch toán và là nội dung cơ bản nhất của tổ chức hạch toán chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm. Xác định đối tƣợng hạch toán chi phí sản xuất chính là việc xác định giới hạn tập hợp chi phí mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí. Còn xác định đối tƣợng tính giá thành chính là việc xác định sản phẩm, bán thành phẩm, công việc, lao vụ nhất định đòi hỏi phải tính phải tính giá thành một đơn vị.