CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chuỗi hoạt động học là tập hợp các hoạt động học tập được sắp xếp theo một trình tự nhất định. Tổ chức các hoạt động học tập là việc giáo viên sắp xếp, bố trí các hoạt động học tập theo một trình tự nhất định, phù hợp với mục tiêu bài học nhằm hình thành kiến thức – kỹ năng và các năng lực phẩm chất cần thiết cho người học.
Chương trình giáo dục phổ thông 2018, định hướng các hoạt động học tập của học sinh bao gồm hoạt động khám phá vấn đề, hoạt động luyện tập và hoạt động vận dụng. Hiện nay, phổ biến trong nhà trường phổ thông, tổ chức hoạt động học tập được tiến hành theo các bước: Hoạt động khởi động, hoạt động hình thành kiến thức, hoạt động luyện tập, hoạt động vận dụng. Tổ chức hoạt động vận dụng kiến thức giúp học sinh củng cố kiến thức vừa học, vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề trong nội bộ môn học, trong các môn học khác và đặc biệt là trong thực tiễn. Trong công văn 5512 [4] đề cập đến các bước tổ chức hoạt động luyện tập và vận dụng gồm có: Xác định mục tiêu: nêu rõ mục tiêu phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh thông qua nhiệm vụ/yêu cầu vận dụng kiến thức đã học, vận dụng kiến thức, kỹ năng vào thực tiễn; Xác định nội dung: Nêu rõ nội dung cụ thể của hệ thống câu hỏi, bài tập giao cho học sinh thực hiện, mô tả rõ yêu cầu học sinh phát hiện/đề xuất các vấn đề/tình huống trong thực tiễn gắn với nội dung bài học và vận dụng kiến thức mới học để giải quyết; Xác định sản phẩm: Nêu rõ yêu cầu về nội dung và hình thức báo cáo phát hiện và giải quyết vấn đề; Tổ chức thực hiện: Giao cho học sinh thực hiện trong và ngoài giờ lên lớp, chia sẻ và đánh giá vào các thời điểm phù hợp trong kế hoạch giáo dục môn học.
Trên thế giới đã có một số tác giả nghiên cứu về chủ đề Hệ thức lượng trong tam giác, Vectơ. Tác giả Purushottam Adhikari [36], đã nghiên cứu và phân tích về những khó khăn trong học tập chủ đề Vectơ của học sinh. Nghiên cứu cho thấy học sinh gặp khó khăn về các khái niệm, thuật ngữ toán học, đặc 6 biệt là ứng dụng thực tế. Tác giả cũng chỉ ra rằng học sinh có thể học toán hiệu quả hơn khi người dạy đưa ra hướng dẫn rõ ràng, gắn liền nội dung bài học với cuộc sống hàng ngày.
Tác giả Laudano, Francesco [34] đã nghiên cứu và xây dựng lộ trình học tập kiến thức lượng giác cho học sinh và minh họa bằng một bài học về định lý Cosin. Ở Việt Nam, có một số luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu việc dạy học chủ đề Hệ thức lượng trong tam giác, Vectơ như: tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hương (2020) nghiên cứu về “Dạy học chương Tích vô hướng của hai vectơ và ứng dụng ở lớp 10 theo hướng phát triển năng lực tư duy và lập luận toán học cho học sinh”. Tác giả đã nghiên cứu lí luận và thực tiễn về năng lực, năng lực tư duy và lập luận toán học và việc dạy học phát triển năng lực cho học sinh. Tác giả đề xuất các biện pháp sư phạm nhằm phát triển năng lực tư duy và lập luận toán học cho học sinh qua việc dạy học chương “Tích vô hướng của hai vectơ và ứng dụng” ở lớp 10; tác giả Nguyễn Hồng Thược (2016) nghiên cứu về “Hoạt động hóa người học trong dạy học chương Vectơ ở lớp 10 trung học phổ thông”.
Tác giả đã nghiên cứu lí luận về hoạt động hóa quá trình dạy học môn Toán, phân tích tình hình dạy học chương Vectơ ở lớp 10 trường trung học phổ thông trên quan điểm hoạt động hóa quá trình dạy học. Tác giả đã vận dụng quan điểm hoạt động hóa quá trình dạy học vào chương Vectơ ở lớp 10. Ngoài ra còn một số bài báo viết về chủ đề này như: tác giả Nguyễn Ngọc Bích [5] viết về ‘‘Vận dụng dạy học dự án trong dạy học chương Tích vô hướng của hai vectơ và ứng dụng’’; tác giả Phạm Thị Nga [16] nghiên cứu về “Dạy học chủ đề hệ thức lượng trong tam giác theo định hướng phát triển năng lực của học sinh – một nghiên cứu hành động”… Tuy nhiên, trong những tài liệu mà chúng tôi có điều kiện nghiên cứu, chưa có tài liệu nào nghiên cứu về thiết kế và tổ chức hoạt động vận dụng kiến thức trong dạy học chủ đề Hệ thức lượng trong tam giác, Vectơ cho học sinh lớp 10. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1.
Khái niệm hoạt động Theo [24], hoạt động “là thực hiện một chức năng nào đó trong một chỉnh thể; hoạt động là tiến hành những việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm một mục đích chung, một lĩnh vực nhất định”. Tác giả Nguyễn Bá Kim cho rằng, “Hoạt động của học sinh là cốt lõi của phương pháp dạy học” [14]. Phương pháp dạy học của giáo viên ở đây được hiểu là cách thức tổ chức các hoạt động của học sinh nhằm đạt được mục tiêu dạy học đề ra. Theo các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy, hoạt động là “mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người (chủ thể)”[29].
Như vậy, có thể hiểu hoạt động là quá trình tác động qua lại có định hướng giữa con người với thế giới xung quanh, hướng tới biến đổi nó nhằm thỏa mãn nhu cầu của chính mình. Trong quá trình hoạt động, con người luôn tích cực sáng tạo tác động vào thế giới khách quan, tạo ra sản phẩm về phía thế giới và tạo ra tâm lý của chính mình. Đặc điểm và cấu trúc của hoạt động * Đặc điểm của hoạt động Theo tác giả Nguyễn Xuân Thức [26], hoạt động có những đặc điểm sau:. - Hoạt động bao giờ cũng là hoạt động có đối tượng.
Hoạt động là quá. trình tác động vào một cái gì đó cụ thể. Bản thân khái niệm hoạt động đã bao hàm # # cả đối tượng của hoạt động. Cũng có một số trường hợp, đối tượng của hoạt động # # # # # # # # # # không có sẵn, mà là cái đang xuất hiện ngay trong quá trình hoạt động.
Đặc điểm # # # này có thể thấy trong các hoạt động học tập, hoạt động nghiên cứu,… # # # - Hoạt động bao giờ cũng có chủ thể. Con người là chủ thể, tác động vào khách thể - đối tượng của hoạt động. Hàm chứa trong hoạt động là tính chủ thể mà đặc điểm nổi bật nhất của nó là tính tích cực và tính tự giác. 8 Chủ thể hoạt động có thể là nhóm người hoặc là một cá nhân.
Khi nhiều người cùng nhau thực hiện hoạt động với một đối tượng, một động cơ chung thì chủ thể chính là nhóm người. Ví dụ: Chủ thể hoạt động đá bóng là một nhóm các cầu thủ bởi họ cùng chung đối tượng là quả bóng, cùng chung động cơ là đá bóng vào khung thành. - Hoạt động bao giờ cũng có tính mục đích. Mục đích đại diện cho sản phẩm của hoạt động có khả năng thỏa mãn nhu cầu nào đó của chủ thể hoạt động, nó điều chỉnh và điều khiển hoạt động.
Tính mục đích và tính đối tượng luôn gắn liền với nhau. Tính mục đích luôn bị kìm hãm bởi nội dung xã hội, vì thế mục đích không nên được hiểu một cách thuần túy như là ý thích riêng, mong muốn, ý định chủ quan,… - Hoạt động vận hành theo nguyên tắc gián tiếp. Trong mỗi hoạt động, chủ thể bao giờ cũng phải sử dụng những công cụ nhất định nào đó. Trong hoạt động lao động, người ta dùng các công cụ kĩ thuật như máy móc, thiết bị,… tác động vào đối tượng lao động.
Tương tự như vậy, công cụ điều khiển thế giới tinh thần của mỗi con người chính là tiếng nói, chữ viết, các kinh nghiệm và các hình ảnh tâm lí khác,… Những công cụ đó giữ chức năng trung gian giữa đối tượng và chủ thể của hoạt động, tạo ra tính gián tiếp của hoạt động. Điều này chỉ ra sự khác biệt về bản chất giữa hành vi bản năng của con vật với hoạt động của con người. * Cấu trúc của hoạt động # Hoạt động được thúc đẩy bởi một động cơ nhất định. Động cơ là cái quan trọng nhất trong tâm lý con người.
Tùy vào mục đíc h và điều kiện cụ thể nơi # # diễn ra hành động mà con người x ác đị nh phươ ng thức gi ải quyết cụ th ể nhiệm # # # # # # vụ. Đó chính là thao tác tạo thành hành động, các thao tá c được qu yết định bởi # # # # điều ki ện và công cụ b ên ngoài. # # Cuộc sống của con người bao gồm nhiều hoạt động riêng lẻ tùy theo động cơ tương ứng. Hoạt động được hợp thành bởi nhiều hành động theo một 9 mục đích nhất định.
Hành động do các thao tác hợp thành tùy thuộc vào điều kiện cụ thể để đạt được mục đích. Đó chính là cấu trúc vĩ mô của hoạt động con người. Theo quan điểm của tác giả A.Leontiev [9], cấu trục vĩ mô của hoạt động bao gồm 6 thành tố vá mối quan hệ giữa các thành tố này.Leontiev đã đưa ra sơ đồ cấu trúc hoạt động như sau: Hình 1. Sơ đồ cấu trúc hoạt động của A.Leontiev Phía chủ thể bao gồm 3 thành tố là hoạt động, hành động, thao tác.
Mối quan hệ giữa 3 thành tố này là Hoạt động – hành động – thao tác. Phía khách thể gồm 3 thành tố và mối quan hệ của chúng với nhau, đó là Động cơ – mục đích – phương tiện. Hoạt động dạy học Hoạt động dạy học là hệ thống những hành động liên tiếp và hòa trộn vào nhau của thầy và trò dưới sự hướng dẫn của người thầy, nhằm đạt được mục tiêu dạy học và qua đó hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực của trò. Trong quá trình dạy học, chủ thể nhận thức là học sinh, người thầy có vai trò tổ chức, kiểm tra, điều khiển hoạt động học tập của học sinh theo một cách thức hợp lý để giúp cho học sinh tự chủ chiếm lĩnh, xây dựng tri thức.
Quan điểm dạy học hiện đại cho rằng hoạt động dạy học gồm có hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò.Mentriskaia, ‘‘Hai hoạt động của thầy và trò là hai mặt của một hoạt 10 động’’[1].