chương 1 HĐTN là hoạt động giáo dục. Trong đó, dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, từng cá nhân HS được tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực tiễn khác nhau của đời sống nhà trường, cũng như ngoài xã hội với tư cách chủ thể hoạt động, qua đó phát triển năng lực tâm lý - xã hội, năng lực thực hiện, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình. HĐDH theo hình thức trải nghiệm là quá trình GV dạy học thông qua hình thức trải nghiệm nhằm tăng cường tri thức, kỹ năng, năng lực (NL) cho HS. Qua khảo cứu các nghiên cứu trong và ngoài nước, các công trình đều đã khẳng định việc dạy học theo hình thức trải nghiệm nhằm hình thành và phát triển phẩm chất nhân cách, các NL tâm lý - xã hội.; giúp HS tích luỹ kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình.
Trong đó, chưa có nghiên cứu nào bài bản về vấn đề tổ chức HĐTN trong dạy học môn TN – XH lớp 2 theo hướng phát triển NL nhận thức khoa học, việc khảo cứu các nghiên cứu nhằm kế thừa hệ thống cơ sở lý luận mà các nghiên cứu đã xây dựng, đồng thời triển khai vận dụng lý luận vào việc dạy học môn TN – XH lớp 2 theo hướng phát triển NL nhận thức khoa học, góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động dạy. 11 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 2 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC KHOA HỌC 2. Đặc điểm tâm sinh lý và nhận thức của học sinh lớp 2 2. Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lớp 2 Theo Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (2008) [15], “Tâm lý học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm.” đã đưa ra đặc điểm phát triển tâm, sinh lý của HS lớp 2 như sau: - Đặc điểm phát triển sinh lý: Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân, xương tay đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hoá) nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập,.Vì thế mà trong các hoạt động vui chơi của các em cha mẹ và thầy cô (sau đây xin gọi chung là các nhà giáo dục) cần phải chú ý quan tâm, hướng các em tới các hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn.” - Hệ cơ “đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa,.Vì vậy mà các nhà giáo dục nên đưa các em vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự an toàn cho trẻ.
- Hệ thần kinh cấp cao “đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy của HS lớp 2 chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu tượng. Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ,.Dựa vào cơ sinh lý này mà các nhà giáo dục nên cuốn hút các em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em. - Chiều cao của HS lớp 2 mỗi năm tăng thêm khoảng 4 cm; trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng khoảng 2 kg. Nếu trẻ vào lớp 2 đúng 6 tuổi thì có chiều cao khoảng 106 cm (nam) hoặc 104 cm (nữ) cân nặng đạt 15,7 kg (nam) và 15,1 kg (nữ).
Tuy nhiên, con số này chỉ là trung bình, chiều cao của trẻ có thể xê dịch khoảng 4-5 cm, cân nặng có thể xê dịch từ 1-2 kg. Tim của trẻ đập nhanh khoảng 85 - 90 lần/ phút, mạch máu tương đối mở rộng, áp huyết động mạch thấp, hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh [15]. Đặc điểm về nhận thức học sinh lớp 2 - Tư duy: Tư duy của HS lớp 2 mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động. Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư 12 duy trừu tượng khái quát.
- Tưởng tượng: Tưởng tượng của HS lớp 2 đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn. Tuy nhiên, hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi. - Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức của HS lớp 2: Hầu hết các em lớp 2 có ngôn ngữ nói thành thạo. Khi trẻ vào lớp 2 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết.
Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm. Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau. Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ. Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ.” - Chú ý và sự phát triển nhận thức của HS lớp 2 chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế.
Ở giai đoạn này chú không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định. Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng,.Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập. - Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của HS lớp 2 là loại trí nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa. Nhiều HS chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu.
- Ý chí và sự phát triển nhận thức của HS lớp 2 phụ thuộc nhiều vào yêu cầu của người lớn (học để được bố cho đi ăn kem, học để được cô giáo khen, quét nhà để được ông cho tiền,. Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đối với việc thực thi hành vi ở các em còn yếu. Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến cùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn.” Nói tóm lại, “Bảy tuổi vào lớp 2 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ. Môi trường thay đổi, đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30 - 35 phút.
Chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá. Bước đầu kiềm chế dần tính 13 hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập. Phát triển độ tinh nhạy và sức bền vững của các thao tác tinh khéo của đôi bàn tay để tập viết,. Tất cả đều là thử thách của trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những điều này thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học” [36].
- Sự phát triển tình cảm của HS lớp 2: Tình cảm của HS lớp 2 mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ,. Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư. Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi (tuy vậy so với tuổi mầm non thì tình cảm của HS lớp 2 đã "người lớn" hơn rất nhiều. Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của HS lớp 2 luôn luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu: Trẻ nhi đồng có thể xuất hiện các năng khiếu như thơ, ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học,.
khi đó cần phát hiện và bồi dưỡng kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập mà không làm thui chột năng khiếu của trẻ. Việc giáo dục tình cảm cho HS tiểu học nói chung và HS lớp 2 nói riêng cần các nhà giáo dục bởi sự khéo léo, tế nhị khi tác động đến các em; nên dẫn dắt các em đi từ hình ảnh trực quan sinh động, hấp dẫn và đặc biệt phải luôn chú ý củng cố tình cảm cho các em thông qua các hoạt động cụ thể như trò chơi nhập vai, đóng các tình huống cụ thể, các hoạt động tập thể ở trường lớp, khu dân cư,. - Sự phát triển nhân cách của HS lớp 2: Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi trường nhà trường còn mới lạ, trẻ có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn. phải trải qua 5 năm tiểu học, "tính cách học đường" mới dần ổn định và bền vững ở trẻ.
Trên cơ sở nghiên cứu về đặc điểm tâm sinh lý và nhận thức của HS lớp 2, tác giả rút ra những đặc điểm thuận lợi về tâm lý lứa tuổi HS để hình thành và phát triển thành phần năng lực nhận thức khoa học, GV cần phải tạo cơ hội để HS được sử dụng các giác quan, tri giác trực tiếp, các hoạt động thực tiễn từ đó huy động những hiểu biết, kinh nghiệm sẵn có để tham gia hình thành kiến thức mới; tổ chức các hoạt động trong đó HS được trình bày hiểu biết của mình, so sánh, phân loại các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội, giải thích một số mối quan hệ trong gia đình, trường học, cộng đồng và trong tự nhiên; hệ thống hoá kiến thức, kết nối được kiến thức mới 14 với hệ thống kiến thức đã có. Hoạt động trải nghiệm 2. Các khái niệm cơ bản 2. Khái niệm hoạt động trải nghiệm Trong cuộc sống hằng ngày, thuật ngữ trải nghiệm được dùng một cách thường xuyên và phổ biến, nên cũng có những cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về trải nghiệm này.
- Từ điển tiếng Việt định nghĩa: Trải có nghĩa là “đã từng qua, từng biết, từng chịu đựng”, còn nghiệm có nghĩa là “kinh qua thực tế nhận thấy điều đó đúng”.