phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài Chƣơng 2. Thiết kế các hoạt động học trực tuyến chủ đề “Quang hình học” - Vật lí 11 nhằm bồi dƣỡng năng lực tự học của học sinh. Thực nghiệm sƣ phạm.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Với sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông ngày càng mạnh thì việc hình thức đào tạo online phát triển nhanh chóng không có gì là quá xa lạ. Một số quốc gia trên thế giới đã khá thành công trong việc áp dụng triển khai giáo dục trực tuyến trong trƣờng học.
Hoa Kỳ đã bắt đầu các nỗ lực của mình trong lĩnh vực E-learning từ cuối thế kỷ 20. Năm 2000, Ủy ban Giáo dục Trên nền tảng Web (Web-based Education Commission) của Quốc Hội đã ban hành Báo cáo Sức mạnh của Internet trong học tập: Từ cam kết đến thực tiễn. Tuy nhiên, phần lớn các chính sách từ phía liên bang tập trung cho giáo dục phổ thông, còn giáo dục đại học phụ thuộc vào chính sách của từng tiểu bang. Các chính sách tiểu bang có sự khác biệt tuy nhiên nhìn chung tập trung vào những nội dung sau: Hỗ trợ hệ thống E-learning mới, nâng cấp cơ sở hạ tầng và kỹ năng giảng dạy, thúc đẩy sự tiếp cận và định hình các chính sách.
Chiến lƣợc phát triển E-learning của Anh không chỉ nhằm đổi mới nền giáo dục nói chung trong thời đại số, mà còn dành một sự quan tâm đáng kể cho giáo dục đại học. Trong những năm gần đây, Anh giảm sự quan tâm đầu tƣ vào cơ sở hạ tầng mà chú ý nhiều hơn vào đổi mới phƣơng pháp dạy và học trong bối cảnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông. Các chính sách nhấn mạnh đến mục tiêu lấy ngƣời học làm trung tâm và cho phép các trƣờng đƣợc chủ động xây dựng chiến lƣợc và phát triển E-learning của mình. Trong những năm gần đây, Hội đồng Tài trợ Giáo dục đại học Anh quốc (HEFCE) đã định kỳ điều chỉnh các chính sách khuyến khích E-learning năm 2009-2012, 2012-2013.
Chính sách phát triển E-learning của Phần Lan đƣợc đặt trong tổng thể chiến lƣợc Xã hội thông tin của quốc gia từ giữa thập niên 1990. Phần Lan tập 8 trung vào giáo dục ngƣời lớn, học tập suốt đời thông qua việc cung cấp một môi trƣờng xã hội thông thoáng cho áp dụng E-learning trong đào tạo ở cấp độ đại học. Quốc gia này tiếp tục đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng cũng nhƣ năng lực học và làm việc trong môi trƣờng ảo hóa. Trong những năm gần đây, Phần Lan có nhiều chính sách về E-learning trong Kế hoạch 5 năm 2011-2016 về phát triển giáo dục và nghiên cứu, Chiến lƣợc quốc tế hóa giáo dục Phần Lan 2009-2015.
Úc khởi động các chính sách về E-learning từ những năm 1990 qua việc ban hành Kế hoạch hành động về giáo dục và đào tạo trong xã hội thông tin với tên gọi Học tập trong xã hội tri thức. Kế hoạch này bao gồm những lĩnh vực: Con ngƣời, Hạ tầng công nghệ, Nội dung, ứng dụng và dịch vụ, Khung chính sách và Tổ chức, Khung pháp lý. Trong đó, hai lĩnh vực đƣợc đầu tƣ nhiều nhất là nâng cao năng lực con ngƣời và phát triển nội dung, ứng dụng và dịch vụ. và nhóm đồng tác giả, 2006).
Thị trƣờng E-learning ƣớc tính của Úc năm 2018 có doanh thu ƣớc tính là 5 tỷ đô la (IBS World, 2018). Năm 2013, OUA đƣa vào hoạt động một nền tảng (platform) của riêng mình là Open2study, cung cấp các khóa học MOOC miễn phí và các khóa học đƣợc công nhận bởi các trƣờng đại học. Việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào giáo dục tại Hàn quốc bắt đầu từ năm 1996 với Kế hoạch tổng thể quốc gia I (1996-2000) tập trung vào việc xây dựng hạ tầng công nghệ hàng đầu thế giới cho giáo dục phổ thông. Năm 2004, Chính phủ Hàn quốc công bố sách trắng Giáo dục Thích ứng trong Kỷ nguyên thông tin 2004 ghi nhận những chính sách quốc gia, các kết quả ban đầu và các định hƣớng tƣơng lai của E-learning.
- Tạo ra một cộng đồng tri thức bằng cách tích hợp công nghệ thông tin và truyền thông vào lĩnh vực giáo dục. - Xây dựng một hệ thống áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục phổ thông. 9 - Điện tử hóa giáo dục đại học, bao gồm cả hoạt động nghiên cứu khoa học. - Sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong quá trình giáo dục liên tục.
- Áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông để quản trị trong lĩnh vực giáo dục. - Đa quốc gia hóa và thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực Học trực tuyến (E-learning). Chính phủ Hàn quốc xem E-learning là một thị trƣờng tiềm năng. Các chính sách bao gồm Luật Phát triển Ngành E-learning (2005) và các Kế hoạch phát triển E-learning lần 1 (2006-2010) và lần 2 (2011-2015).
Với bốn chính sách lớn: Củng cố hệ sinh thái ngành E-learning, Phát triển nguồn nhân lực, Tăng cƣờng tính hữu dụng và Xây dựng mạng lƣới toàn cầu, ngân sách sử dụng ƣớc tính đến năm 2015 là 3,5 tỷ đô la và tạo ra 37. Thị trƣờng E- learning của Hàn quốc ƣớc tính đạt 2,86 tỷ USD vào năm 2013 (Innovation Center Denmark Seoul, 2014). Nhìn chung, chính sách phát triển E-learning của các quốc gia đƣợc khảo sát có sự khác biệt trên các phƣơng diện mục tiêu, vai trò nhà nƣớc, lĩnh vực ƣu tiên và các giải pháp cụ thể. Các mục tiêu chủ yếu của chính sách E- learning là nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia qua phát triển nguồn nhân lực trong thời đại số, xây dựng xã hội hài hòa về quyền học tập và khả năng tiếp cận công nghệ thông tin hoặc xem đây là một thị trƣờng tiềm năng.
Tất cả các quốc gia đều quan tâm đến giáo dục phổ thông, trong đó vai trò nhà nƣớc thay đổi từ mức độ hỗ trợ cao (đầu tƣ nguồn lực) hoặc thấp (tạo dựng khuôn khổ pháp lý và để cho thị trƣờng điều tiết). Các lĩnh vực quan tâm trong chính sách bao gồm phát triển hạ tầng, nội dung, nguồn nhân lực và tạo dựng chính sách, tiêu chuẩn. Tùy theo từng giai đoạn và quan điểm của mỗi quốc gia mà lĩnh vực tập trung sẽ khác nhau. Thông thƣờng, phát triển cơ sở hạ tầng là 10 bƣớc đầu tiên trong chính sách liên quan đến E-learning, đặc biệt là mạng internet.
Tình hình nghiên cứu ở Việt nam Về hạ tầng công nghệ, Việt Nam phát triển nhanh chóng về mạng internet với tốc độ đƣờng truyền ngày càng cao và giá phí thấp. Điều này dẫn đến Việt Nam là quốc gia có số lƣợng ngƣời sử dụng internet lớn thứ 6 châu Á và thứ 12 trên thế giới với 64 triệu ngƣời vào năm 2018 (We Are Social, 2018). Về phƣơng diện xã hội, Việt Nam cũng đang trong “thời kỳ dân số vàng”, trong đó số lƣợng ngƣời dƣới 30 tuổi năm 2014 là 45.462 triệu ngƣời, chiếm 50,2% dân số (Tổng cục Thống kê, 2016) là những ngƣời dễ dàng tiếp cận với công nghệ thông tin và truyền thông. Theo dữ liệu của tổ chức nghiên cứu thị trƣờng Ambient Insight, Việt Nam nằm trong danh sách 10 quốc gia dẫn đầu về tỷ lệ phát triển E-learning dự báo cho giai đoạn 2014-2016.
Thị trƣờng E- learning Việt Nam theo đánh giá của các chuyên gia không dƣới 2 tỷ USD và có tốc độ tăng trƣởng 40% tuy nhiên phần lớn tập trung vào luyện thi, luyện ngoại ngữ và các kỹ năng mềm. Các trƣờng học ở Việt Nam đã quan tâm đến E-learning từ khá sớm, Trong đào tạo từ xa, E-learning phát triển khá nhanh chóng với các chƣơng trình của TOPICA, OLM, HOCMAI,…Đặc biệt trong giai đoạn Covid (2020 – 2022), nhu cầu tìm kiếm, theo dõi các nền tảng học tập trực tuyến tăng đột biến, nhiều hệ thống đã quá tải và phải gấp rút tăng cƣờng xây dựng, thiết kế các học liệu số và tìm kiếm các giáo viên đáp ứng đƣợc những yêu cầu của việc dạy học online. Tóm lại, sự phát triển của E-learning, đặc biệt trong giáo dục tại Việt Nam còn hạn chế so với tiềm năng. Để phát triển một cách nhất quán, mạch lạc các nền tảng dạy học trực tuyến hiệu quả, cần thiết có “khung kế hoạch”, “khung chƣơng trình” cho dạy trực tuyến.
Cần có “khung đánh giá”, “chuẩn kiểm tra, đánh giá” cho việc học trực tuyến. Để từ đó xây dựng các khóa học, các bài 11 kiểm tra phù hợp và làm nền móng cho nền tảng dạy học trực tuyến. Tất nhiên khi tất cả đều còn là mới mẻ, khó mà tránh đƣợc sai sót. Vì vậy cần có các đề xuất thí điểm và triển khai sớm để làm điển hình phát triển chung cho dạy học trực tuyến.
Về yếu tố kỹ thuật, nền tảng dạy học trực tuyến cần ba yếu tố cốt lõi: kết nối internet, công nghệ xây dựng nền tảng và bảo mật an toàn thông tin. Nếu nhƣ công nghệ xây dựng nền tảng hiện nay đã phổ biến, mã nguồn mở thì yếu tố internet hay bảo mật an toàn thông tin cần chú trọng hơn cả. Để các khóa học kết nối ổn định, tốc độ cao, chất lƣợng hình tốt nhất thì Việt Nam cần thiết phủ sóng 4G, nghiên cứu xây dựng công nghệ 5G, 6G. Nâng cao, cập nhật kỹ thuật an toàn thông tin bởi chỉ khi các tài liệu, bài thi, quá trình kiểm tra đƣợc bảo mật an toàn thì dạy học trực tuyến mới đạt hiệu quả để đánh giá thực tiễn lâu dài.
Về yếu tố xã hội, nền tảng dạy học trực tuyến cần hai yếu quan trọng: lứa tuổi và nội dung học. Đối với một xã hội vẫn trọng giá trị học và thi trực tiếp thì cần đánh giá lựa chọn lứa tuổi phù hợp để triển khai hiệu quả học trực tuyến. Ví dụ đối với lứa tuổi hoặc tƣơng đƣơng trình độ từ đại học, việc dạy trực tuyến giải quyết rất nhiều vấn đề về thời gian, không gian. Bản chất đào tạo từ xa chính là dạy học trực tuyến nhƣng với sự phát triển nền tảng dạy học trực tuyến cần đạt đƣợc những giá trị cao hơn về chất lƣợng khóa học cũng nhƣ tính uy tín của những bài kiểm tra trực tuyến.
Nội dung học cũng quan trọng bởi cùng với xu thế hội nhập, nhiều ngành học mới mở ra, nhiều bộ môn mới đƣợc phát triển mà việc dạy học trực tuyến đôi khi lại hiệu quả hơn cả. Điển hình các lớp đào tạo về code, lập trình có thể hoàn toàn dạy học trực tuyến.