CHƯƠNG 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE TO CHỨC VÀ HOAT DONG CUA CONG TY CO PHAN TRONG MO HINH CONG TY ME CON THEO PHAP LUAT VIET NAM. Một số van dé lý luận về công ty cổ phần 1. Khái niệm công ty cỗ phan Ở Việt Nam, sau năm 1986 khi thực hiện công cuộc đôi mới, CTCP đã được hình thành từ ba nguồn chính: cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, thành lập từ khu vực kinh tế tư nhân và thành lập từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Pháp luật Việt Nam không đưa ra định nghĩa cụ thể về CTCP mà chỉ quy định những dấu hiệu để nhận biết nó.
Ghi nhận tại Điều 2 Luật Công ty năm 1990, CTCP được coila “doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào công ty”. Tới LDN năm 2014, theo Điều 110, CTCP là doanh nghiệp có các dấu hiệu cơ bản sau: vốn điều lệ được chia thành nhiều phan bằng nhau gọi là cỗ phan; người sở hữu cổ phan là các cô đông; cổ đông có thé là tổ chức, cá nhân, số lượng tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; các cổ đông chỉ chúa trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; có quyền phát hành cô phan các loại dé huy động vốn”. Những đặc điểm này cũng được giữ nguyên tại LDN năm 2020. Đó cũng là những đặc điểm đặc trưng giúp phân biệt CTCP với các loại hình doanh nghiệp khác.
Mặc dù có cách dinh nghĩa khác nhau về CTCP, nhưng xét về bản chất pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số nước trên thế giới có quan điểm tương đồng khi cho rằng đây là loại hình công ty đặc trưng của công ty đối vốn với đặc điểm quan trong là có sự tách bach tài sản cua công ty va tài sản của các cô đông. Đặc diém công ty cỗ phan Từ quy định chung về CTCP theo Điều 111 LDN năm 2020, có thé nhận thay CTCP theo pháp luật Việt Nam có những đặc điểm sau: Thứ nhất, về tinh chất khi thành lập CTCP là loại công ty đối vốn. Điều đó có nghĩa là khi thành lập, công ty chủ yếu quan tâm đến vốn góp, còn việc ai góp vốn không quan trọng. Vì vậy, tính chất này đã quyết định tới việc CTCP có cấu trúc vốn mở.
Thứ hai, về cấu trúc vốn của CTCP Khác với loại hình doanh nghiệp khác, vốn điều lệ của CTCP được chia thành nhiều phan bằng nhau gọi là cổ phan. Giá trị mỗi cô phan gọi là mệnh giá cô phan và được thê hiện thông qua cô phiếu. Các cô đông góp vốn vào công ty bằng cách mua cổ phan. Pháp luật không hạn chế số lượng cô phan mà một cô đông có thé năm giữ nên một cô đông có thé mua nhiều cô phan.
Đặc điểm cấu trúc vốn của CTCP còn được thê hiện ở khả năng huy động vốn lớn nhất trong tất cả các loại hình doanh nghiệp bằng việc phát hành chứng khoán. Sự chủ động và khả năng có thể huy động một nguồn vốn lớn là ưu điểm vô cùng quan trọng tạo nên sự thành công về quy mô cũng như giá trị của CTCP. Tuy nhiên, khả năng huy động vốn lớn cũng mang lại rủi ro nhất định cho các cô đông trong CTCP. Do vậy, so với các loại hình doanh nghiệp khác, CTCP chịu sự đều chỉnh bởi khung pháp lý khắt khe hơn.
Thứ ba, về số lượng cổ đông trong CTCP LDN năm 2020 không giới hạn số lượng tối đa các cô đông mà chỉ giới han số lượng tối thiểu là ba cổ đông (theo điểm b khoản 1 Điều 111). Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư khi thành lập công ty với khả năng và tiềm lực kinh tế đáp ứng với số lượng ba cổ đông là đủ dé có thê điều hành công ty. Mặt khác, với tính tự do chuyển nhượng cô phan thì số lượng cô đông trong công ty luôn biến đổi. Quy định này giúp hạn chế nguy cơ công ty phải cham dứt hoạt động khi không đủ số lượng cô đông tối thiểu, từ đó tạo tâm lý yên tâm cho các nhà đầu tư.
Thứ tư, về tính chịu trách nhiệm trong kinh doanh Là một pháp nhân (theo quy dinh của Bộ Luật dân sự năm 2015), CTCP ch trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình với các khoản nợ của công ty. Các cô đông chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty mà không phải chịu trách nhiệm thay công ty về các khoản nợ của công ty. Chế độ chu trách nhiệm hữu hạn trong CTCP có nhiều ưu điểm, trong đó quan trọng nhất là giúp hạn chế rủi ro trong kinh doanh. Cé đông không phải chịu trách nhiệm với các khoản nợ của công ty bằng toàn bộ tài sản của mình như chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân.
Thứ năm, về tính tự do chuyển nhượng phan vốn góp (cổ phan) Đây là đặc điểm chỉ có ở CTCP (do bản chất đối vốn). Phần vốn góp được thê hiện bằng hình thức cổ phiếu. Cổ phiếu do CTCP phát hành là một loại hàng hóa. Người có cổ phiếu được tự do chuyển nhượng theo quy định của pháp luật.
Việc chuyển nhượng được thực hiện theo cách thông thường hoặc thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán. Phân loại công ty cỗ phân Theo quy định của pháp luật hiện hành có thể chia CTCP thành ba loại đó la: CTCP thông thường, công ty đại chúng(chưa niêm yết) và công ty niêm yết. Công ty cổ phần thông thường Luật Doanh nghiệp không đưa ra định nghĩa cụ thể mà chỉ đưa các dấu hiệu nhận biết đối với CTCP thông thường. Cụ thé, theo Điều 111 Luật Doanh nghiệp năm 2022, CTCP là doanh nghiệp trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phan bằng nhau gọi là cổ phần; Cô đông có thé là tổ chức, cá nhân, số lượng cô đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Cổ đông có quyền tự do chuyên nhượng cô phần của mình cho người khác.
Công ty đại chúng Khái nệm “Công ty đại chúng” được quy dinh tại Điều 32 Luật Chứng khoán năm 2019. Theo đó, công ty đại chúng là CTCP thuộc một trong hai loại hình sau đây: (i) Công ty có vốn điều lệ đã góp từ 30 ty đồng trở lên và có tối thiểu là 10% số cô phiếu có quyền biểu quyết do ít nhất 100 nhà đầu tư không phải là cổ đông lớn nắm giữ; (ii) Công ty đã thực hiện chào bán thành công cổ phiếu lần đầu ra công chúng thông qua đăng ký với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật này. Công ty đại chúng mang day đủ bản chất của CTCP, tuy nhiên Luật Chứng khoản quy định thêm một số điều kiện khác đối với loại hình này và phải thực hiện thủ tục đăng ký nhất định. Công ty niêm yết Công ty niêm yết là công ty đại chúng đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 53, Điều 54 Nghị định số 58/2012/NĐ-CP, ngày 20/7/2012 của Chính phủ quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đối, bố sung một số điều của Luật Chứng khoán và khoản 15 Điều 1 Nghị định số 60/2015/NĐ-CP, ngày 26/6/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2012NĐ-CP.
Theo đó, công ty niêm yết phải đáp ứng các yêu cầu nhất định về vốn điều lệ, thời gian hoạt động và hiệu quả hoạt động kinh doanh, số lượng cô đông tối thiểu, điều kiện về trái phiếu và đăng ky niêm yet trái phiêu. 10 Như vậy, với từng loại hình CTCP, mô hình tô chức, quản tri tương ứng với loại hình CTCP đó sẽ mang những nét khác biệt nhất định. Một số vấn đề lý luận về mô hình công ty mẹ con 1. Khát niệm mô hình công ty mẹ con Mô hình công ty mẹ - công ty con đã ra đời từ lâu, là hình thức liên kết được ưa chuộng trong nền kinh tế.
Hiện có nhiều tập đoàn lớn được tổ chức theo mô hình công ty mẹ - công ty con trong đó luôn có một công ty đóng vai trò trung tâm (công ty mẹ) điều phối hoạt động của các công ty cò lại (công ty con). Lý luận về công ty mẹ - công ty con đã được kinh tế học và khoa học pháp lý nhiều nước nghiên cứu, Về phương diện học thuật khái nệm công ty mẹ, công ty con đã được dé cập trong công trình bài viết của nhiều tác giả trên thế giới, vì đu Theo Từ điển Pháp luật Blacks Law Dictionary thì công ty me (Parent corporation) là: “nội công ty nắm quyên kiểm soát đối với công ty khác gọi là công ty con (subsidiary corporation), thông qua việc sở hữu từ hơn một phần hai số cô phan hoặc số vốn diéu lệ có quyên biểu quyết ”[31. Từ điển này cũng định nghĩa công ty con là công ty mà trong đó bị một công ty mẹ khác nắm quyền kiểm soát cô phần. Theo Từ điển American Heritage Dictionary of the English Language: “công ty mẹ là một công ty chỉ phối hoặc sở hữu một hoặc nhiễu công ty khác ”[32] Những định nghĩa nêu trên hiện mới tiếp cận dưới góc độ chung, đơn giản, chưa đưa ra tiêu chí cụ thể để xác định công ty mẹ và công ty con Các định nghĩa này chỉ đề cập đến yếu tố “chi phối” hay “sở hữu” để xác định công ty mẹ, công ty con mà chưa đưa ra mức độ chi phối hay sở hữu cụ thé.
Do đó, việc xác định mối quan hệ công ty mẹ, công ty con thực tế có thể gặp khó khăn. 11 Về phương diện kinh tế, khái niệm công ty mẹ - công ty con đã được đề cập trong nhiều công trình, bai viết, ví dụ: Theo diễn giải của chuẩn mực kế toán quốc tế ISA (International Accounting Standard): công ty mẹ là một thực thé pháp lý có ít nhất một đơn vị trực thuộc là công ty con, và công ty con là thực thể pháp lý bị kiểm soát bởi công ty mẹ.