CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Trong bối cảnh nền kinh tế số đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, dẫn tới sự thay đổi chóng mặt của môi trường kinh doanh, việc đầu tư cho hoạt động ĐMST ngày càng có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của các doanh nghiệp. Văn hóa là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới hoạt động của của doanh nghiệp (Tran & Nguyen, 2021) và trong bối cảnh hiện tại, hoạt động ĐMST cũng chịu ảnh hưởng từ văn hóa, đặc biệt là văn hóa vùng. Văn hoá vùng là một thực thể văn hoá bao gồm những nét đặc trưng, những sắc thái riêng mà các vùng khác không có hoặc có mà không điển hình, không tiêu biểu (Lê, 2020). Ngoài ra, Việt Nam là một đất nước có nền văn hóa vùng đa dạng và phong phú và có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động ĐMST của các doanh nghiệp (Frijns, 2016).
Thực tế, ĐMST đã xuất hiện trên thế giới từ đầu thế kỉ 20 và Joseph A. Schumpeter - học giả người Áo đầu tiên tập trung nghiên cứu lĩnh vực này (Trần, 2021). Từ đó, chủ đề về ĐMST trong nội bộ doanh nghiệp được các nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau. Trong lĩnh vực quản trị nghiên cứu tiêu biểu của Acs & Audretch (1988) hay Lundvall (1992) nhấn mạnh ĐMST như một quá trình từ nghiên cứu đến khi hoàn thành áp dụng cộng nghệ mới vào sản xuất các sản phẩm hiện tại hoặc đưa ra sản phẩm mới.
Còn Damanpour & Wischnevsky (2006) cho rằng ĐMST được thể hiện qua những ý tưởng sáng tạo, những hành vi mới trong tổ chức. Trong 2 thập kỉ qua, không chỉ trong lĩnh vực quản trị, mà ở góc độ kinh tế học, xã hội học hay tâm lý xã hội, các nghiên cứu khoa học cũng có những cách tiếp cận khác nhau về ĐMST trong doanh nghiệp. Điều này cũng chứng minh được mức độ quan tâm của các nhà khoa học, chính phủ và của chính các doanh nghiệp tới hoạt động ĐMST trong kinh doanh. Bởi vì ĐMST là yếu tố quan trọng nhằm tăng khả năng cạnh tranh, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay (Hill, 2003).
Theo Charles Hill, hiện nay có xu hướng cạnh tranh dựa trên giá trị của sản phẩm hoặc dịch vụ mà các doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng (Hill, 2003). ĐMST chính là nhân tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Vì vậy, đầu tư vào hoạt động ĐMST ngày càng trở 9 nên quan trọng đối với các doanh nghiệp trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, nghiên cứu chuyên sâu về các hoạt động ĐMST tại Việt Nam vẫn còn hạn chế và hầu hết các công trình trong những năm qua về vấn đề này đều là những nghiên cứu thực nghiệm đối với các doanh nghiệp nước ngoài (Nhạ & Quân, 2013).
Hơn nữa, những nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình ĐMST trong doanh nghiệp trên thế giới hiện nay cũng chỉ tập trung chủ yếu vào những yếu tố trong doanh nghiệp như kỹ năng đổi mới lãnh đạo của đội ngũ quản trị doanh nghiệp, cơ cấu tổ chức và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Crossan & Apaydin, 2010); những yếu tố cá nhân, nhóm và tổ chức (Anderson & cộng sự, 2004); hay những yếu tố khách quan như địa lý, lịch sử, kinh tế, công nghệ và luật pháp (Salter & Alexy, 2014; Léger & Swamithan, 2007). Trong khi đó, trên thế giới, văn hóa vùng tại các quốc gia, trong đó có Việt Nam rất đa dạng, phong phú; môi trường kinh doanh ở mỗi vùng, địa phương có tính đặc thù, dẫn đến hoạt động ĐMST tại các khu vực địa lý này cũng cần được thực hiện triển khai phù hợp với từng vùng văn hóa. Như vậy, không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới vẫn còn ít những nghiên cứu về ảnh hưởng của văn hóa vùng tới hoạt động ĐMST của doanh nghiệp. Thực tế, hiện nay tại Việt Nam, việc ứng dụng những thành tựu ĐMST hay công nghệ vào hoạt động của doanh nghiệp vẫn còn hạn chế và chưa thực hiện một cách chủ động (Nhạ & Quân, 2013).
Ngoài ra, văn hóa vùng tại Việt Nam cũng đa dạng và phong phú, do đó việc tìm hiểu về ảnh hưởng của văn hóa vùng tới hoạt động ĐMST của các doanh nghiệp Việt Nam thể hiện vai trò quan trọng trong định hướng và đề xuất các chính sách phát triển hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai. Chính từ bối cảnh trên, nhóm tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “Ảnh hưởng của văn hóa vùng tới năng lực ĐMST của doanh nghiệp Việt Nam” là chủ đề nghiên cứu.2 Tổng quan nghiên cứu Trên thế giới, các học giả đã triển khai một số nghiên cứu về ảnh hưởng của văn hóa vùng tới năng lực ĐMST của doanh nghiệp. Một nhóm các đề tài trước đây chủ yếu tập trung phân tích ảnh hưởng của văn hóa tới hoạt động của doanh nghiệp nói chung, hoặc ảnh hưởng của văn hóa tới hệ thống ĐMST vùng. Các công trình khác lại mang tính thực nghiệm, áp dụng nghiên cứu đối với một số địa phương, quốc gia cụ thể.
Mặt khác, nhiều 10 nghiên cứu trên thế giới đã khẳng định tác động của văn hóa doanh nghiệp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Do đó, trong nghiên cứu này, nhóm tác giả hệ thống hóa tổng thể các nghiên cứu liên quan theo 2 hướng sau đây: (1) Ảnh hưởng của văn hóa doanh nghiệp đến hoạt động của doanh nghiệp; và (2) Ảnh hưởng của văn hóa vùng đến hoạt động của doanh nghiệp. Một là, các nghiên cứu tập trung phân tích ảnh hưởng của văn hóa doanh nghiệp tới hoạt động của doanh nghiệp. Các nghiên cứu nhận định văn hóa doanh nghiệp được hệ thống hóa như một tập hợp các giá trị và chuẩn mực được chia sẻ rộng rãi và được duy trì chặt chẽ trong toàn bộ tổ chức (O’Reilly & Chatman, 1996; Guiso & cộng sự, 2015).
Hay văn hóa doanh nghiệp được coi như một dạng “kiểm soát xã hội” bổ sung cho các hệ thống kiểm soát truyền thống vì nó giúp nhân viên đưa ra quyết định (Guiso & cộng sự, 2015). Các cách tiếp cận đã khẳng định văn hóa là một phạm trù khá rộng và Benneworth & Ratinho (2013) chỉ ra rằng không nên giới hạn yếu tố “văn hóa” trong một khuôn khổ nhất định. Thực tế, các công trình tập trung phân tích ảnh hưởng của văn hóa doanh nghiệp đến hoạt động của doanh nghiệp như nguồn nhân lực, đào tạo và phát triển, sự công bằng và nhất quá trong chính sách quản trị, và một số yếu tố khác được nhắc tới dưới dây. Về nguồn nhân lực, các tác giả tập trung phân tích hoạt động của doanh nghiệp thể hiện ở đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp, sự gắn bó của nhân viên với tổ chức đó.
Cụ thể, nghiên cứu của Tran & Nguyen (2021) chỉ ra rằng các lãnh đạo nước ngoài trong các doanh nghiệp tại Việt Nam có tác động tích cực tới hoạt động kinh doanh hơn so với lãnh đạo trong nước. Còn “Ảnh hưởng của văn hóa doanh nghiệp tới sự gắn bó của nhân viên trong tổ chức: nghiên cứu tại Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh” của Nguyễn (2021) chứng minh rằng yếu tố đào tạo và phát triển là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất sự gắn bó của nhân viên với Ngân hàng. Hơn nữa, một số nghiên cứu trên thế giới đã phân tích kĩ tác động của văn hóa doanh nghiệp tới hoạt động ĐMST.
Theo Vũ (2020), văn hóa doanh nghiệp là yếu tố chính khích lệ quá trình ĐMST. Tác giả này nhận định rằng trong các doanh nghiệp tại Việt Nam có môi trường văn hóa làm việc tốt, mọi nhân viên luôn được khuyến khích đưa ra sáng kiến, 11 ý tưởng. Sự khích lệ này sẽ góp phần phát huy tính năng động sáng tạo của các nhân viên. Mặt khác, những thành công của nhân viên trong công việc sẽ tạo động lực để họ gắn bó họ với công ty lâu dài và tích cực hơn.
Julia & cộng sự (2016) cũng đưa ra kết quả tương tự trong nghiên cứu của họ. Theo đó, văn hóa có thể thúc đẩy sự đổi mới, cũng như hiệu quả hoạt động của công ty, hoặc nó cũng có thể là một trở ngại cho cả hai, tùy thuộc vào các giá trị được thúc đẩy bởi văn hóa. Nghiên cứu của Julia & cộng sự (2016) đã đưa ra kết quả cụ thể rằng một nền văn hóa thần quyền là công cụ dự báo hiệu quả hoạt động và đổi mới tốt nhất. Dựa trên những kết quả này, có thể kết luận rằng, đổi mới là trung gian cho mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức và hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp.
Trong một nghiên cứu khác, Janice (2020) chỉ ra rằng nếu một tổ chức muốn có một nền văn hóa đổi mới, thì đội ngũ lãnh đạo phải đi đầu bằng cách đề xuất ý tưởng, truyền đạt rộng rãi trong tổ chức và thể hiện cam kết của đối với sự đổi mới thông qua các hành vi và sự tham gia của họ vào quá trình đạt được sự đổi mới trong doanh nghiệp. Một số nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa văn hóa doanh nghiệp và ĐMST như của Viktoria & cộng sự (2016) hay của Saidi (2016) đã sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp từ bảng hỏi và đưa ra kết luận rằng văn hóa doanh nghiệp có tác động mạnh mẽ tới hoạt động ĐMST cũng như hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp. Mối liên hệ mạnh mẽ nhất được đo lường giữa bầu không khí an toàn về tâm lý tại nơi làm việc và sự sẵn sàng của nhân viên để đưa ra những ý tưởng mới và giữa mối quan hệ giữa các cá nhân tại nơi làm việc và sự sáng tạo của cá nhân (Viktoria & cộng sự, 2016). Ngoài ra, trong nghiên cứu về các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Saidi (2016), tác giả này phát hiện ra rằng có một mối quan hệ có ý nghĩa giữa văn hóa tổ chức và năng lực đổi mới, nhưng mức độ ảnh hưởng của những yếu tố này khác nhau từ hiệu quả nhất (văn hóa thị tộc) đến kém hiệu quả hơn (văn hóa phân cấp).
Như vậy, các nghiên cứu về tác động của văn hóa doanh nghiệp đến hoạt động của doanh nghiệp đã khẳng định trong nhiều công trình, từ lý thuyết lẫn thực nghiệm tại nhiều quốc gia khác nhau và đây cũng là chủ đề quan tâm của nhiều nhà khoa học tại Việt Nam.