phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận án được cấu trúc làm năm chương. Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về doanh nhân và văn hóa doanh nhân Hàn Quốc Chƣơng 2: Hệ giá trị văn hoá doanh nhân Hàn Quốc và những yếu tố ảnh hưởng Chƣơng 3: Văn hoá gia tộc doanh nhân Hàn Quốc Chƣơng 4: Khảo sát kiểm định và đánh giá thực trạng, xu hướng biế n đổ i của văn hóa doanh nhân Hàn Quốc. Chƣơng 5: Một số giải pháp phát triển văn hoá doanh nhân Việt Nam dựa trên bài học kinh nghiệm từ Hàn Quốc 6 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC VỀ DOANH NHÂN VÀ VĂN HÓA DOANH NHÂN HÀN QUỐC 1. Về khái niệm “Doanh nhân” Tầng lớp doanh nhân xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử loài người.
Khi cuộc phân công lao động lần I diễn ra, nghề thủ công tách ra khỏi trồng trọt và chăn nuôi thì dẫn đến nhu cầu trao đổi hàng hóa phát triển giữa các bộ lạc, thị tộc. Sự ra đời của hàng hóa kéo theo sự hình thành tầng lớp doanh nhân. Họ là những người buôn bán, sản xuất và trao đổi hàng hóa. Như vậy, xét về mặt lịch sử thì doanh nhân xuất hiện trước các nhà chính trị và triết học.
Ở phương Tây, từ “doanh nhân” dịch sang tiếng Anh là “enterpreneur” xuất hiện từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ. Vào thời trung cổ, “enterpreneur” được cho là những người quản lý các dự án sản xuất lớn. Đến đầu thế kỷ XVII, công nghiệp và thương nghiệp phát triển mạnh ở các nước, đặc biệt ở Châu Âu (như Anh, Pháp, Đức.) các hợp đồng của chính phủ giao cho các doanh nhân thực hiện ngày càng nhiều kéo theo sự phát triển của tầng lớp những ông chủ - những doanh nhân. Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ và quá trình mở rộng giao thương quốc tế, lúc này mô hình doanh nghiệp, tập đoàn trở thành hình thức tổ chức SXKD phổ biến thì khái niệm “doanh nhân” đã có nhiều thay đổi.
Từ điển tiếng Anh kinh doanh của Longman6định nghĩa phân biệt ba khái niệm: thương gia (businessman), nhà quản lý kinh doanh (business manager) và doanh nhân (entrepreneur) như sau: (1) Thương gia là người thực hiện việc buôn bán, trao đổi hàng hóa để kiếm lời; (2) Nhà quản lý kinh doanh là: i) người được thuê để quản lý hoạt động kinh doanh có tính chuyên nghiệp; ii) người làm trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp, có trách nhiệm về vấn đề hành chính và tài chính và (3) Doanh nhân: i) người tổ chức các yếu tố sản xuất, đất đai, lao động, vốn để sản xuất và bán hàng hóa nhằm thu lợi nhuận. Doanh nhân là một khái niệm cơ bản trong kinh tế học, với đặc tính chấp nhận rủi ro, và đối với hầu hết các nhà kinh tế học, doanh nhân là yếu tố thứ tư của quá trình sản xuất mà nếu không có nó thì ba yếu tố kia (vốn, công nghệ, nhân lực) không thể hoạt động có hiệu quả được; ii) Doanh nhân thông thường là người chủ, người tổ chức, người 6 Dẫn theo J.83 7 z cung cấp tài chính và quản lý tổ chức thương mại hay công nghiệp để tạo ra lợi nhuận; iii) Doanh nhân là người mà thông qua hoạt động kinh doanh làm cho mình trở thành lãnh đạo trong thế giới kinh tế. Các định nghĩa trên có sự phân biệt nghề nghiệp giữa doanh nhân, thương gia và nhà quản lý kinh doanh. Trong đó doanh nhân đòi hỏi phải có những điều kiện về tố chất, năng lực.
cao hơn so với những người khác cùng nghề. Sau đây là quan điểm của một số nhà nghiên cứu tiêu biểu về doanh nhân. Casson cho rằng, xét về bản chất của kinh doanh, trong khi nhà quản trị là người điều hành doanh nghiệp trong điều kiện ổn định và thiên về chức năng quản lý thì doanh nhân được coi là người có khả năng khám phá, khai thác cơ hội đang tồn tại hay sẽ xuất hiện của thị trường; phối hợp sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp một cách sáng tạo - các yếu tố sản xuất một cách hiệu quả nhất; là những người (1)dám chấp nhận rủi ro và (2) có đầu óc sáng tạo để thành lập những doanh nghiệp mới, tạo dựng lĩnh vực kinh doanh mới, tung ra những sản phẩm mới, tìm ra qui trình công nghệ mới nhằm (3) theo đuổi khát vọng tìm kiếm lợi nhuận. - Josheph Schumpeter8:Một “doanh nhân” đúng nghĩa không chỉ là một nhà doanh nghiệp (businessman) mà trước hết là một người làm giàu thông qua các (1)sáng kiến và (2)chấp nhận đối phó với những rủi ro.
Schumpeter quan niệm rằng kinh doanh không chỉ là một nghề, nhà kinh doanh - doanh nhân có thể là một tầng lớp hay một nhóm xã hội có một số đặc trưng nhất định. Song theo Ông, các nhà kinh doanh không phải là một giai cấp hiểu theo nghĩa là một tầng lớp xã hội.Và những người sản xuất, các kỹ nghệ gia, các thương nhân, các cổ đông của một công ty hay kể cả các nhà tư bản (capitalist) không nhất thiết đều là doanh nhân; doanh nhân tạo ra việc làm, còn nhà tư bản thì sử dụng việc làm. - Max Weber9: Khắp thế giới, đâu cũng có thương nhân, những người cho vay, những ông chủ đồn điền, “những kẻ đầu cơ chuyên đi săn các cơ hội để kiếm tiền", “những kẻ phiêu lưu tư bản” nhưng phần lớn hoạt động của những loại người này "đều mang tính chất thuần túy phi lý tính và đầu cơ, hoặc thiên về chiếm hữu bằng bạo lực". 7 Dẫn theo Trần Hữu Quang(2007) 8 Dẫn theo Nguyễn Quang Vinh, Trần Hữu Quang (2011) 9 Dẫn theo Trầ n Hữu Quang(2007) 8 z Theo Weber thì "những doanh nhân có nét đặc trưng không chỉ nằm ở chỗ ham muốn doanh lợi, mà còn ở chỗ nung nấu ham muốn tích lũy không ngừng ngày càng nhiều và do vậy ý chí sản xuất của ông ta trở nên không giới hạn”.
Formaini (2001): Doanh nhân hay nhà doanh nghiệp là người đảm nhận một số nhiệm vụ nhất định dựa trên am hiểu và khả năng nắm bắt cơ hội thị trường, khai thác chúng. Người này ở các mức độ khác nhau là người dám chấp nhận rủi ro, là người sáng tạo, là người dám từ bỏ cái đang ổn định để tìm kiếm cái mới. Doanh nhân không phải là người lên kế hoạch kinh doanh cụ thể, ra các quyết định quản lý mà họ là người có khả năng phán đoán, có tầm nhìn xa mang tính cá nhân, dám chịu rủi ro mà những người khác không có hoặc không dám. Ông cũng phân tích lịch sử của khái niệm doanh nhân như sau: doanh nhân hay nhà doanh nghiệp được các nhà kinh tế học tiền bối gọi là celui qui entreprend, có nghĩa là người chủ động và sáng tạo.
Từ này bắt nguồn từ entreprendre, với ý nghĩa tương tự là “khiến cho mọi thứ được thực hiện”. Đến thế kỷ XVI, entrepreneur xuất hiện và mang nghĩa (1) hiểu, nắm giữ (saisir), (2) khiến cho ngạc nhiên, khám phá (surprender). -Peter Ferdinand Drucker (2011): Tinh thần kinh doanh (entrepreneurship) được hiểu là hành động của doanh nhân (entrepreneur) –“người tiến hành việc biến những cảm nhận nhạy bén về kinh doanh, tài chính và sự đổi mới, sáng tạo thành những sản phẩm hàng hóa mang tính kinh tế. Kết quả của những hành động này là tạo nên những tổ chức mới hoặc góp phần tái tạo lại những tổ chức đã “già cỗi”.Cùng quan điểm với Schumpeter, Peter Drucker quan niệm sáng tạo - đổi mới là mô ̣t trong những đặc trưng cốt lõi của doanh nhân - của tinh thần kinh doanh - đó là hành vi gắn cho các tài nguyên một năng lực mới nhằm tạo ra của cải.
Doanh nhân là người coi sự thay đổi như là một chuẩn mực của hoạt động và luôn suy nghĩ kỹ lưỡng về sự thay đổi, ứng phó với sự thay đổi và khai thác sự thay đổi như là một cơ hội - Drucker coi đây là định nghĩa của ông về doanh nhân và tinh thần kinh doanh. Đồng thời Drucker cho rằng, doanh nhân phải là người có thiên hướng mạo hiểm (propensity for risk- taking), song họ lại là những người thận trọng (convervative). Họ không phải là người tìm kiếm sự rủi ro (risk-focused) mà thực ra là kẻ đi tìm cơ hội (opportunity-focused) và luôn tìm cách giảm thiểu rủi ro. Và ông đúc kết, doanh nhân giỏi là doanh nhân luôn nhận diện, phân tích và tận dụng được cơ hội có thể có trong một môi trường ngày càng thay đổi nhanh chóng.
9 z Tóm lại, các nhà nghiên cứu nước ngoài, nhất là các nhà nghiên cứu phương Tây có quan điểm thống nhất rằng, khái niệm doanh nhân được gắn với doanh nghiệp (bởi doanh nghiệp là hình thức tổ chức SXKD chủ yếu và phổ biến ở các nước phát triển). Do vậy, doanh nhân được nhận diện và phân biệt với những người làm nghề kinh doanh khác như nhà quản trị, thương gia. bởi các yếu tố: Khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh, sự khởi nghiệp (new venture startup), thái độ dám chấp nhận rủi ro (risk), sự đổi mới và sáng tạo (innovation - creative), đến những thành quả (hay phần thưởng) có tính bền vững (reward). Những yếu tố này tạo thành hệ giá trị mà cốt lõi của nó là tinh thần doanh nghiệp hay tinh thần kinh doanh (entrepreneurship).
Đồng thời khẳng định, doanh nhân phải là người có tinh thần kinh doanh. Tôi cho rằng quan điểm của Peter Ferdinand Drucker có tính khái quát hơn cả. Về khái niệm “Văn hóa doanh nhân” Các nghiên cứu nước ngoài, dù ở phương Đông hay phương Tây thường có hai cách tiếp cận khi nghiên cứu về VHDN: - Cách thứ nhất:điều tra, khảo sát thực tiễn , tìm ra các yếu tố đặc trưng, mô tả các nét đặc trưng đó rồi khái quát hóa thành văn hóa của cộng đồng doanh nhân. - Cáchthứ hai: nghiên cứu đưa ra hệ giá trị hay những đặc trưng được kỳ vọngở cộng đồng doanh nhân, từ đó định hình nên VHDN.
Cách tiếp cận này thường đưa ra khái niệm “entrepreurship” - tinh thần kinh doanh (hay còn được gọi là tinh thần doanh nghiệp). Dưới đây là một vài quan điểm của các học giả tiêu biểu. - Dinna Louise Dayao (2005) đã thực hiện điều tra với 32 doanh nhân thành công nhất khu vực châu Á và tổng kết các đặc điểm nổi bật của họ như sau: (1) Ý chí bền bỉ, kiên cường, sự bề n bỉ đế n nhẫn nhục theo đuổi khát vọng kinh doanh. (2) Sự sáng tạo và đổi mới được chuyển tải sâu rộng và toàn diện đến toàn doanh nghiệp.