Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 62 31 06 40) với đề tài "Văn hoá kinh doanh của doanh nhân Việt Nam đầu thế kỷ XX" được nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Ánh thực hiện tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2017, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Lê Quý Đức và TS. Nguyễn Thị Hương.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Đầu thế kỷ XX, sự xuất hiện của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa cùng các yếu tố văn minh phương Tây và những biến chuyển chính trị, văn hóa - xã hội đã hình thành nên một lớp người mới trong xã hội Việt Nam: tầng lớp doanh nhân. Khởi nguồn từ các chí sĩ yêu nước trong phong trào Duy Tân với Lương Văn Can – tác giả cuốn sách giáo khoa thương nghiệp đầu tiên "Thương học phương châm" – đến giữa thế kỷ XX, tầng lớp doanh nhân Việt Nam đã phát triển và có nhiều đóng góp cho dân tộc, đặc biệt trong Cách mạng tháng Tám và giai đoạn đầu xây dựng chính quyền độc lập. Đóng góp của họ không chỉ dừng lại ở nguồn tài chính hỗ trợ cách mạng mà còn ở việc định hình bản lĩnh, trí tuệ và văn hóa kinh doanh của người Việt trong bối cảnh đất nước mất chủ quyền.

Tuy nhiên, trải qua các thập kỷ chiến tranh và cơ chế quản lý kinh tế thời kỳ trước Đổi mới, vai trò của kinh tế tư nhân và tầng lớp doanh nhân từng bị kìm hãm. Từ năm 1986, công cuộc Đổi mới đã phục hồi và phát triển đội ngũ doanh nhân. Việc xây dựng nền văn hóa kinh doanh hiện đại đòi hỏi sự kế thừa có chọn lọc các giá trị truyền thống dân tộc. Do đó, nghiên cứu làm sáng tỏ đặc điểm, nội dung và giá trị của văn hóa kinh doanh đầu thế kỷ XX là nhiệm vụ cấp thiết nhằm cung cấp cơ sở lịch sử và thực tiễn cho việc kiến tạo văn hóa kinh doanh Việt Nam hiện nay.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ rõ: Các công trình trước đây phần lớn nghiên cứu doanh nhân thời kỳ thuộc Pháp dưới góc độ lịch sử giai cấp, phong trào yêu nước hoặc khảo cứu từng cá nhân đơn lẻ (như Bạch Thái Bưởi, Lương Văn Can, Nguyễn Sơn Hà, Trịnh Văn Bô); chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về văn hóa kinh doanh của toàn bộ tầng lớp doanh nhân Việt Nam giai đoạn này dưới góc độ chuyên ngành Văn hóa học.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích tổng quát của luận án là trên cơ sở tìm hiểu văn hoá kinh doanh của doanh nhân Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, làm rõ ý nghĩa của nền văn hóa kinh doanh thời kỳ này và xác định những vấn đề đặt ra cho việc xây dựng văn hóa kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.

Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ khái niệm văn hoá kinh doanh, cơ cấu và vai trò của văn hóa kinh doanh từ phương diện Văn hóa học.
  2. Tìm hiểu hoàn cảnh xuất hiện của tầng lớp doanh nhân Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX và khái quát hoạt động kinh doanh của họ.
  3. Làm rõ những nội dung cơ bản, đặc điểm của văn hoá kinh doanh của tầng lớp doanh nhân Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
  4. Phân tích một số ý nghĩa cơ bản của văn hoá kinh doanh của doanh nhân Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX và những vấn đề đặt ra đối với việc xây dựng văn hoá kinh doanh của tầng lớp doanh nhân Việt Nam hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Văn hoá kinh doanh của tầng lớp doanh nhân Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến khi Cách mạng tháng Tám thành công (1945).
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Phạm vi thời gian và nội dung: Tập trung vào giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX (1900 - 1945), khảo sát quá trình hình thành, các hoạt động kinh doanh và các thành tố cấu thành văn hóa kinh doanh của giới doanh nhân người Việt; đồng thời có sự tham chiếu, đối sánh với tình hình xây dựng văn hóa kinh doanh hiện nay.
    • Phạm vi không gian: Lãnh thổ Việt Nam (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) trong bối cảnh thuộc địa nửa phong kiến.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã hệ thống hóa khối lượng lớn tài liệu nghiên cứu liên quan đến văn hóa kinh doanh và tầng lớp doanh nhân Việt Nam theo các nhóm chủ đề và giai đoạn lịch sử:

Các hướng nghiên cứu lý luận về văn hóa kinh doanh

  • Nghiên cứu quốc tế: Đạo đức kinh doanh và các yếu tố văn hóa trong kinh tế đã được đề cập từ sớm qua quan điểm của Adam Smith (thế kỷ XVIII) về vai trò của đạo đức trong vận hành kinh tế; Benjamin Franklin và Max Weber với khái niệm "đạo đức kinh tế" hay ethos kinh doanh. Từ thập niên 1970–1980, môn Đạo đức kinh doanh (Business Ethics) được chuẩn hóa học thuật, tiêu biểu là giáo trình của O.C. Ferrell và cộng sự, nghiên cứu của Mridula Goel và Preeti E. về ranh giới giữa đạo đức kinh doanh và Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR). Văn hóa kinh doanh hiện đại trên thế giới phát triển theo hai nhánh chính: nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp/văn hóa tổ chức (Andrew Brown, Don Lavoie, Emily Chamlee-Wright) và nghiên cứu phong tục, tập quán, sự khác biệt văn hóa kinh doanh giữa các quốc gia (Sue Shinomiya, Brian Szepkouski, W. Brierley, Robert T. Moran, Richard D. Lewis với tác phẩm When Cultures Collide).
  • Nghiên cứu trong nước: Khái niệm văn hóa kinh doanh bắt đầu được thảo luận chính thức từ Hội thảo khu vực châu Á - Thái Bình Dương "Văn hoá và kinh doanh" năm 1995 (với bài tham luận của Đỗ Huy). Giai đoạn sau đó, hàng loạt công trình chuyên sâu và giáo trình đại học ra đời: Đỗ Minh Cương và Nguyễn Thị Doan (Triết lý kinh doanh với quản lý doanh nghiệp), Đỗ Minh Cương (Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh), Nguyễn Mạnh Quân (Giáo trình Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty), Dương Thị Liễu (Giáo trình Văn hóa kinh doanh), Phùng Xuân Nhạ, Dương Thị Liễu, Đỗ Minh Cương (Nhân cách doanh nhân và văn hoá kinh doanh ở Việt Nam trong thời kì đổi mới, hội nhập quốc tế). Ngoài ra, các luận án tiến sĩ của Nguyễn Hoàng Ánh (2004), Vũ Tiến Dũng (2010), Nguyễn Thị Ngọc Anh (2012), Nguyễn Viết Lộc (2014), Nguyễn Tuấn Minh (2013) cùng các bài viết của Dương Trung Quốc, Nguyễn Trần Bạt đã tiếp cận văn hóa kinh doanh từ các góc độ kinh tế quốc tế, triết học, nhân học văn hóa.

Các hướng nghiên cứu về doanh nhân Việt Nam đầu thế kỷ XX

  • Tài liệu trước năm 1945: Khởi đầu từ tác phẩm Văn minh tân học sách của phong trào Duy Tân - Đông Kinh nghĩa thục phê phán thói chuộng hư văn, khinh thực nghiệp. Các cơ quan báo chí đầu thế kỷ XX đóng vai trò cổ vũ chấn hưng thương nghiệp như Nông cổ mín đàm (với mục "Thương cổ luận" của Lương Khắc Ninh / Lương Dũ Thúc, các bài viết của Trần Chánh Chiếu), Đăng cổ tùng báo (Nguyễn Văn Vĩnh), Thực nghiệp dân báo, Hữu thanh, Lục tỉnh tân văn, Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí (bài viết của Thượng Chi - Phạm Quỳnh về doanh nhân Bạch Thái Bưởi và tàu Bình Chuẩn). Các tác phẩm hướng dẫn thực hành thương nghiệp gồm Thương hội chỉ nam của Trần Ngọc Bích (1924) và Thương học phương châm của Lương Văn Can. Về nguồn tư liệu tiếng Pháp có các báo cáo kinh tế trên Bulletin économique de l'Indochine về Hợp tác xã Đồng Lợi, điều lệ của Hội Công thương Đồng nghiệp Bắc Kỳ và Hội Trung Bắc công thương đồng nghiệp.
  • Tài liệu sau năm 1945: Các công trình nghiên cứu lịch sử giai cấp tư sản và phong trào dân tộc của Nguyễn Công Bình (Tìm hiểu giai cấp tư sản Việt Nam thời thuộc Pháp), Sơn Nam (Phong trào Duy Tân ở Bắc Trung Nam - Miền Nam đầu thế kỷ XX), Lý Tùng Hiếu và Nguyễn Hồng Dung (nghiên cứu về Lương Văn Can), Nguyễn Q. Thắng (về các chí sĩ Duy Tân làm kinh tế như Hồ Tá Bang, Phan Thúc Duyện, Trần Chánh Chiếu), Lê Minh Quốc (về Bạch Thái Bưởi), các chuyên khảo về Nguyễn Sơn Hà (Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp; Đinh Xuân Lâm, Phạm Xanh, Văn Tạo), Đỗ Đình Thiện (Lê Văn Hiến, Nguyễn Khánh Anh, Nguyễn Thành), Trịnh Văn Bô (Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Công Nghiệp, Vũ Tiến Lộc). Gần đây có các luận án tiến sĩ lịch sử của Trần Thanh Hương (2012) về tư sản Bắc Kỳ và Nguyễn Văn Phượng (2015) về tư sản Trung Kỳ.
Nhóm tài liệu Tác giả tiêu biểu Đóng góp & Trọng tâm khảo cứu
Lý luận VHKD quốc tế Adam Smith, Benjamin Franklin, Max Weber, O.C. Ferrell, Richard D. Lewis Xác lập phạm trù đạo đức kinh tế, trách nhiệm xã hội và sự đa dạng văn hóa kinh doanh.
Lý luận VHKD trong nước Đỗ Huy, Đỗ Minh Cương, Nguyễn Thị Doan, Dương Thị Liễu, Phùng Xuân Nhạ Định hình khái niệm, cấu trúc văn hóa kinh doanh và nhân cách doanh nhân trong thời kỳ Đổi mới.
Tư liệu báo chí & thư tịch trước 1945 Lương Văn Can, Lương Khắc Ninh, Trần Chánh Chiếu, Trần Ngọc Bích, Phạm Quỳnh Ghi nhận thực trạng buôn bán, cổ xúy lập hội buôn, hướng dẫn thực hành kinh doanh và đề cao chữ tín.
Khảo cứu lịch sử sau 1945 Nguyễn Công Bình, Sơn Nam, Nguyễn Q. Thắng, Trần Thanh Hương, Nguyễn Văn Phượng Phân tích quá trình hình thành, vai trò kinh tế và thái độ chính trị của giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp thuộc.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án kế thừa các tư liệu lịch sử và khung lý thuyết đi trước nhưng tập trung giải quyết các điểm khuyết thiếu:

  1. Bổ chỉnh lý thuyết văn hóa kinh doanh dưới góc độ chuyên ngành Văn hóa học, phân định rõ ranh giới giữa văn hóa kinh doanh (văn hóa hoạt động của cộng đồng doanh nhân) với văn hóa doanh nghiệp (văn hóa tổ chức) và văn hóa doanh nhân (nhân cách cá nhân).
  2. Tái hiện diện mạo văn hóa kinh doanh của toàn bộ tầng lớp doanh nhân Việt Nam giai đoạn 1900–1945 như một tiểu hệ thống văn hóa hoàn chỉnh, bao gồm từ tư tưởng, đạo đức, thực hành đến nhân cách và các biểu hiện ngoại hiện.
  3. Rút ra bài học lịch sử và luận giải các vấn đề mang tính quy luật cho việc xây dựng văn hóa kinh doanh Việt Nam hiện nay.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Vận dụng nguyên lý về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của chủ nghĩa Mác - Lênin để phân tích các điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội làm nảy sinh tầng lớp doanh nhân và quy định đặc điểm văn hóa kinh doanh của họ.
  • Lý thuyết cộng đồng của D. Chavis: Tiếp cận ý thức cộng đồng qua 4 yếu tố: tư cách thành viên, tầm ảnh hưởng, sự hội nhập/đáp ứng yêu cầu, và sự gắn bó chia sẻ tình cảm nhằm lý giải sự cố kết, liên kết hội đoàn của giới doanh nhân Việt Nam đầu thế kỷ XX.
  • Cách tiếp cận "lựa chọn văn hóa" của A. Wildavsky: Khảo sát các quy định nội bộ, ứng xử văn hóa và các giá trị lựa chọn của nhóm cộng đồng doanh nhân trong quá trình hoạt động kinh tế.
  • Khái niệm Văn hóa kinh doanh do tác giả xác lập: Luận án định nghĩa: "Văn hoá kinh doanh là một bộ phận của văn hoá kinh tế nằm trong tổng thể của một nền văn hóa, bao gồm toàn bộ hoạt động kinh doanh có sự thẩm thấu các thuộc tính, đặc trưng, trình độ văn hoá mà chủ thể kinh doanh (doanh nhân của một cộng đồng) tiếp thu và sáng tạo nên, biểu hiện ra như một kiểu, dạng hay nền văn hoá kinh doanh nhất định."
  • Khung cấu trúc 5 thành tố của văn hóa kinh doanh:
    1. Hệ thống triết lý - tư tưởng kinh doanh: Các nguyên tắc cơ bản, mục tiêu định hướng hoạt động kinh doanh và giải quyết quan hệ lợi ích.
    2. Hệ thống giá trị, chuẩn mực đạo đức trong kinh doanh: Các chuẩn mực trung thực, giữ chữ tín, tuân thủ pháp luật và thực hiện trách nhiệm xã hội.
    3. Hệ thống thực hành (công nghệ) kinh doanh: Tri thức, kỹ năng, nghệ thuật điều hành, năng lực quản lý và cách thức tổ chức thiết chế doanh nghiệp, hội đoàn thương mại.
    4. Hệ thống nhân cách doanh nhân: Mẫu hình nhân cách, phẩm chất, tài năng và bản sắc riêng của các cá nhân doanh nhân tiêu biểu.
    5. Hệ thống các yếu tố ngoại hiện của văn hóa kinh doanh: Các biểu trưng trực quan hữu hình (logo, trụ sở, hình ảnh) và vô hình (nghi lễ, khẩu hiệu, giai thoại).
Thành tố VHKD Nội dung cốt lõi Biểu hiện cụ thể trong nghiên cứu
Triết lý - tư tưởng Tư tưởng chỉ đạo, định hướng mục tiêu vì ai, kinh doanh vì cái gì Tinh thần dân tộc, duy tân tự cường, đạo làm giàu chân chính.
Đạo đức kinh doanh Hệ giá trị, chuẩn mực điều chỉnh hành vi của người kinh doanh Giữ chữ tín, trọng nghĩa khinh tài, tương thân tương ái, trách nhiệm với xã hội.
Thực hành kinh doanh Năng lực chủ thể, nghệ thuật quản trị, kỹ năng thương trường Thành lập công ty cổ phần, lập nghiệp đoàn, nghệ thuật quảng cáo, cạnh tranh.
Nhân cách doanh nhân Phẩm chất, bản lĩnh và phong cách của chủ thể Tinh thần dấn thân, lòng yêu nước, ý thức tự tôn nòi giống qua các tấm gương điển hình.
Yếu tố ngoại hiện Các yếu tố trực quan nhận diện tổ chức và hoạt động Tên hiệu buôn, cờ hiệu tàu thuyền, nhãn mác hàng hóa, bài ca cổ động thương nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án là công trình nghiên cứu định tính, sử dụng phối hợp các phương pháp liên ngành khoa học xã hội:

  • Phương pháp tiếp cận liên ngành: Kết hợp tri thức và công cụ phân tích của Văn hóa học, Nhân học, Xã hội học, Kinh tế học và Đạo đức học để xem xét đa chiều đối tượng nghiên cứu.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Thu thập, xử lý và phân tích hồi cố các nguồn tư liệu thứ cấp, văn bản lưu trữ, sách báo xuất bản đầu thế kỷ XX để rút ra các đặc trưng văn hóa kinh doanh.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Tác giả trực tiếp thiết kế câu hỏi và phỏng vấn ba nhóm đối tượng:
    • Nhóm 1: Phỏng vấn 03 chuyên gia nghiên cứu lịch sử và kinh tế học nhằm thu thập đánh giá chuyên môn về vai trò của tầng lớp doanh nhân đầu thế kỷ XX đối với lịch sử dân tộc.
    • Nhóm 2: Phỏng vấn các nhân chứng, doanh nhân lão thành và hậu duệ của các gia đình doanh nhân đầu thế kỷ XX nhằm khai thác ký ức gia đình, tư liệu truyền khẩu và các câu chuyện kinh doanh thực tế.
    • Nhóm 3: Phỏng vấn 03 doanh nhân Việt Nam đương đại (bao gồm chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa, cùng lãnh đạo quản lý tập đoàn kinh tế lớn) để đối sánh nhận thức, sự kế thừa bài học kinh nghiệm từ các thế hệ tiền bối.
  • Phương pháp so sánh và đối chiếu: So sánh điều kiện lịch sử, phương thức sản xuất và đặc điểm văn hóa kinh doanh giữa thời kỳ đầu thế kỷ XX với thời kỳ hiện nay.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Nguồn tài liệu lưu trữ gốc và văn bản Hán Nôm, Quốc ngữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Viện Thông tin Khoa học xã hội (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) và Thư viện Quốc gia Việt Nam.
  • Các ấn phẩm báo chí đầu thế kỷ XX: Nông cổ mín đàm, Đăng cổ tùng báo, Thực nghiệp dân báo, Hữu thanh, Lục tỉnh tân văn, Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí.
  • Hồ sơ, điều lệ công ty và hội đoàn bằng tiếng Pháp: Báo cáo về Hợp tác xã Đồng Lợi trên Bulletin économique de l’Indochine, Điều lệ Hội Công thương Đồng nghiệp Bắc Kỳ (Association amicale des employés indigènes de commerce et d’industrie au Tonkin), Điều lệ Hội Trung Bắc công thương đồng nghiệp.
  • Dữ liệu phỏng vấn sâu các chuyên gia, hậu duệ gia đình doanh nhân và doanh nhân đương đại.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và lý luận về văn hóa kinh doanh

Chương 1 (trang 9 - 46) gồm hai nội dung lớn: tổng quan tình hình nghiên cứu và xây dựng khung lý luận về văn hóa kinh doanh.

Tác giả điểm luận chi tiết các tài liệu trong và ngoài nước về văn hóa kinh doanh, đạo đức kinh doanh và các nghiên cứu lịch sử về giai cấp tư sản, doanh nhân Việt Nam trước và sau năm 1945. Về mặt lý luận, tác giả phân tích khái niệm kinh doanh (theo nghĩa rộng bao gồm đầu tư, sản xuất, lưu thông, dịch vụ nhằm mục đích sinh lời), khái niệm doanh nhân (theo nghĩa rộng chỉ những người tham gia tổ chức, quản trị, điều hành doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế) và xác lập định nghĩa văn hóa kinh doanh từ góc độ Văn hóa học. Luận án phân tích cơ cấu văn hóa kinh doanh gồm 5 thành tố (triết lý - tư tưởng; giá trị - chuẩn mực đạo đức; thực hành kinh doanh; nhân cách doanh nhân; các yếu tố ngoại hiện), đồng thời chỉ rõ mối quan hệ giữa văn hóa kinh doanh với môi trường thể chế xã hội, môi trường văn hóa xã hội, môi trường toàn cầu hóa và vai trò của văn hóa kinh doanh đối với sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững và hội nhập quốc tế.

Chương 2: Sự hình thành và hoạt động kinh doanh của tầng lớp doanh nhân Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

Chương 2 (trang 47 - 74) tái hiện bối cảnh lịch sử và bức tranh thực tế về sự hình thành, quy mô hoạt động của doanh nhân người Việt.

Tiết 2.1 phân tích các điều kiện lịch sử hình thành tầng lớp doanh nhân, bao gồm các chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp làm biến đổi cơ cấu kinh tế truyền thống, sự du nhập của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, quá trình đô thị hóa và ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng duy tân từ phương Tây, Nhật Bản, Trung Quốc.

Tiết 2.2 làm rõ quá trình vận động từ các phong trào lập hội buôn thời kỳ Duy Tân (Minh Tân công nghệ xã, Đông Kinh nghĩa thục, Triều Dương thương quán, Liên Thành thương quán) đến sự phát triển của các doanh nghiệp tư sản dân tộc trong các ngành giao thông vận tải thủy, khai khoáng, dệt lụa, sản xuất gạch ngói, sơn, ấn loát, xuất nhập khẩu. Tác giả tổng hợp các số liệu lịch sử cụ thể về năng lực hoạt động của thương nhân người Việt qua các bảng biểu thống kê lưu trữ:

  • Bảng 2.1: Hoạt động vận tải bằng tàu thuyền của các thương nhân Việt Nam từ năm 1910 đến năm 1924 (ghi nhận quy mô đội tàu, các tuyến luân chuyển đường sông và ven biển của các hãng tàu người Việt, tiêu biểu là công ty Bạch Thái Bưởi trong cuộc cạnh tranh với các chủ tàu người Hoa và người Pháp).
  • Bảng 2.2: Tình hình xuất cảng lụa (thống kê sản lượng và kim ngạch xuất khẩu tơ lụa của các cơ sở sản xuất, dệt lụa tư nhân người Việt như Hợp tác xã Đồng Lợi, xưởng dệt Lê Quang Long).

Chương 3: Nhận diện văn hoá kinh doanh của tầng lớp doanh nhân Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

Chương 3 (trang 75 - 112) là chương trọng tâm nhận diện các giá trị văn hóa kinh doanh theo khung cấu trúc 5 thành tố đã thiết lập:

  • Triết lý - tư tưởng kinh doanh (Tiết 3.1): Nổi bật là tư tưởng "chấn hưng nội hóa", "thực nghiệp cứu quốc", kinh doanh gắn liền với trách nhiệm dân tộc. Mục tiêu làm giàu của doanh nhân không đơn thuần là lợi nhuận cá nhân mà là tạo thực lực kinh tế cho người Việt, giành lại chủ quyền kinh tế từ tay tư bản ngoại kiều (Pháp, Hoa, Ấn).
  • Giá trị, chuẩn mực đạo đức trong kinh doanh (Tiết 3.2): Tác giả chỉ ra các chuẩn mực cốt lõi gồm: đề cao "chữ tín", "thương đức" đi liền với "thương tài"; tinh thần tương thân tương ái, đoàn kết tương trợ giữa các nhà buôn; thực hiện trách nhiệm xã hội thông qua các hoạt động từ thiện, tài trợ giáo dục, nuôi dưỡng phong trào cách mạng và đóng góp cho Quỹ Độc lập, Tuần lễ Vàng sau năm 1945.
  • Thực hành kinh doanh (Tiết 3.3): Phân tích sự chuyển biến trong công nghệ và phương thức kinh doanh: áp dụng mô hình công ty cổ phần, hiệp hội công thương (Hội Công thương đồng nghiệp Bắc Kỳ, Hội Trung Bắc công thương đồng nghiệp); nghệ thuật tiếp thị, quảng cáo trên báo chí; kỹ năng đàm phán và tổ chức mạng lưới đại lý phân phối sản phẩm nội địa.
  • Nhân cách doanh nhân (Tiết 3.4): Khắc họa phẩm chất của các doanh nhân điển hình: Lương Văn Can với đạo kinh doanh trung thực, Bạch Thái Bưởi với ý chí tự cường dân tộc và tài năng tổ chức vận tải thủy, Nguyễn Sơn Hà với tinh thần tự học làm chủ kỹ thuật sản xuất sơn, Trịnh Văn Bô và Đỗ Đình Thiện với tấm lòng yêu nước, cống hiến tài chính to lớn cho nền độc lập dân tộc.
  • Nhận xét chung (Tiết 3.5): Tổng kết các đặc trưng, ưu điểm nổi bật và những hạn chế lịch sử (quy mô vốn nhỏ, tính liên kết còn lỏng lẻo, chịu sự chèn ép của luật pháp thực dân) của văn hóa kinh doanh giai đoạn 1900–1945.

Chương 4: Bàn luận về doanh nhân và văn hóa kinh doanh Việt Nam - truyền thống và hiện đại

Chương 4 (trang 113 - 145) bàn luận về tính kế thừa lịch sử và định hướng thực tiễn:

  • Những bài học lịch sử cho doanh nhân hiện nay (Tiết 4.1): Rút ra 5 bài học lớn từ văn hóa kinh doanh nửa đầu thế kỷ XX: (1) Bài học về tinh thần dân tộc và trách nhiệm phụng sự Tổ quốc trong hoạt động kinh tế; (2) Bài học về giữ gìn chữ tín và đạo đức nghề nghiệp; (3) Bài học về tinh thần đoàn kết, liên kết hội đoàn giữa các doanh nhân; (4) Bài học về tinh thần tự lực tự cường, không ngừng học hỏi làm chủ tri thức và kỹ thuật; (5) Bài học về xây dựng nhân cách và phong cách sống mẫu mực của người làm kinh doanh.
  • Vấn đề đặt ra đối với việc kiến tạo văn hoá kinh doanh Việt Nam hiện nay (Tiết 4.2): Luận giải bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Tác giả chỉ ra các thách thức về sự suy thoái đạo đức kinh doanh, hàng giả, gian lận thương mại và đề xuất các nhóm vấn đề cần giải quyết: hoàn thiện thể chế kinh tế minh bạch ("thể chế nào, doanh nhân ấy"); xây dựng môi trường văn hóa xã hội lành mạnh tôn vinh tinh thần doanh nhân chân chính; phát huy vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp; định hình hệ chuẩn mực đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội của doanh nhân Việt Nam hiện đại.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Dưới góc độ chuyên ngành Văn hóa học, luận án đã phân tích và đưa ra định nghĩa mới về khái niệm văn hóa kinh doanh, xác định văn hóa kinh doanh là một bộ phận của văn hóa kinh tế, biểu hiện các thuộc tính, trình độ văn hóa do chủ thể kinh doanh tiếp thu và sáng tạo.
  2. Luận án phân định rõ ranh giới học thuật giữa ba khái niệm thường bị đồng nhất: văn hóa kinh doanh (văn hóa hoạt động của cộng đồng kinh doanh), văn hóa doanh nghiệp (văn hóa tổ chức) và văn hóa doanh nhân (văn hóa nhân cách).
  3. Đề xuất mô hình cấu trúc văn hóa kinh doanh gồm 5 thành tố (triết lý - tư tưởng, đạo đức, thực hành, nhân cách, yếu tố ngoại hiện), tạo khung phân tích có tính hệ thống cho các nghiên cứu văn hóa học về hoạt động kinh tế.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Phục dựng một cách toàn diện và có hệ thống diện mạo, đặc điểm văn hóa kinh doanh của tầng lớp doanh nhân Việt Nam giai đoạn 1900–1945 dựa trên nguồn tư liệu thư tịch, báo chí thời kỳ Pháp thuộc và tài liệu phỏng vấn sâu.
  2. Khẳng định vai trò lịch sử và bản sắc văn hóa của tầng lớp doanh nhân đầu thế kỷ XX không chỉ ở phương diện cung cấp tài chính cho cách mạng mà còn ở việc định hình bản lĩnh, đạo đức kinh doanh và khát vọng tự cường của dân tộc trong hoàn cảnh đất nước mất chủ quyền.
  3. Rút ra các bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị thực tiễn đối với đội ngũ doanh nhân hiện nay; đồng thời đề xuất các định hướng nhằm hoàn thiện thể chế, xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch và kiến tạo hệ giá trị chuẩn mực văn hóa kinh doanh Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế nghiên cứu: Do đối tượng nghiên cứu thuộc về bối cảnh lịch sử cách thời điểm nghiên cứu gần một thế kỷ, nhiều nguồn tài liệu gốc về sổ sách kế toán, hoạt động nội bộ của các công ty thời Pháp thuộc bị thất lạc hoặc tản mác qua các cuộc chiến tranh; số lượng nhân chứng lịch sử trực tiếp tham gia kinh doanh giai đoạn trước 1945 không còn nhiều, thông tin phỏng vấn chủ yếu khai thác qua hậu duệ và các nhà nghiên cứu lịch sử.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa văn hóa kinh doanh của doanh nhân người Việt với văn hóa kinh doanh của các cộng đồng thương nhân ngoại kiều (Hoa kiều, Pháp kiều, Ấn kiều) cùng hoạt động tại Việt Nam đầu thế kỷ XX; hoặc đi sâu khảo cứu chuyên biệt văn hóa kinh doanh theo từng ngành nghề kinh tế đặc thù (ngành hàng hải, ngành dệt, ngành thủ công mỹ nghệ).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Kinh tế, Xã hội học và Quản trị kinh doanh; đặc biệt là việc ứng dụng khung phân tích 5 thành tố của văn hóa kinh doanh và phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hóa - kinh tế.
  • Các nhà hoạch định chính sách: Các cơ quan quản lý văn hóa và kinh tế có thêm cơ sở lý luận, thực tiễn để xây dựng các chính sách phát triển đội ngũ doanh nhân, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường gắn liền với việc xây dựng hệ giá trị văn hóa doanh nghiệp quốc gia.
  • Cộng đồng doanh nhân và các hiệp hội nghề nghiệp: Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử về những tấm gương doanh nhân tiền bối tiêu biểu (Lương Văn Can, Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Sơn Hà, Trịnh Văn Bô), giúp các doanh nhân đương đại tìm hiểu cội nguồn đạo kinh doanh của dân tộc, củng cố đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội trong quản trị doanh nghiệp hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả luận án định nghĩa "Văn hóa kinh doanh" dưới góc độ Văn hóa học như thế nào?
Trả lời: Tác giả định nghĩa: "Văn hoá kinh doanh là một bộ phận của văn hoá kinh tế nằm trong tổng thể của một nền văn hóa, bao gồm toàn bộ hoạt động kinh doanh có sự thẩm thấu các thuộc tính, đặc trưng, trình độ văn hoá mà chủ thể kinh doanh (doanh nhân của một cộng đồng) tiếp thu và sáng tạo nên, biểu hiện ra như một kiểu, dạng hay nền văn hoá kinh doanh nhất định."

2. Cơ cấu của văn hóa kinh doanh theo luận án gồm những thành tố nào?
Trả lời: Cơ cấu văn hóa kinh doanh được luận án xác lập gồm 5 thành tố cơ bản: (1) Hệ thống triết lý - tư tưởng kinh doanh; (2) Hệ thống giá trị, chuẩn mực đạo đức trong kinh doanh; (3) Hệ thống thực hành (công nghệ) kinh doanh; (4) Hệ thống nhân cách doanh nhân; (5) Hệ thống các yếu tố ngoại hiện của văn hoá kinh doanh.

3. Tác giả đã tiến hành phương pháp phỏng vấn sâu với các nhóm đối tượng cụ thể nào?
Trả lời: Tác giả thực hiện phỏng vấn sâu với 3 nhóm đối tượng: (1) 03 nhà nghiên cứu lịch sử và kinh tế học; (2) Các doanh nhân lão thành và hậu duệ của tầng lớp doanh nhân đầu thế kỷ XX; (3) 03 doanh nhân Việt Nam hiện nay (gồm chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ, và nhà quản lý tập đoàn kinh tế lớn).

4. Những ấn phẩm báo chí và tài liệu dạy kinh doanh đầu thế kỷ XX nào được luận án khai thác?
Trả lời: Luận án khai thác các báo: Nông cổ mín đàm (mục Thương cổ luận), Đăng cổ tùng báo, Thực nghiệp dân báo, Hữu thanh, Lục tỉnh tân văn, Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí; tác phẩm Văn minh tân học sách, Thương hội chỉ nam của Trần Ngọc Bích (1924) và Thương học phương châm của Lương Văn Can.

5. Luận án trình bày những bảng biểu thống kê lịch sử nào trong Chương 2?
Trả lời: Luận án trình bày hai bảng số liệu: Bảng 2.1 "Hoạt động vận tải bằng tàu thuyền của các thương nhân Việt Nam từ năm 1910 đến năm 1924" (trang 70) và Bảng 2.2 "Tình hình xuất cảng lụa" (trang 71).


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Văn hoá kinh doanh của doanh nhân Việt Nam đầu thế kỷ XX" của tác giả Nguyễn Thị Ánh là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Văn hóa học, làm sáng tỏ một cách có hệ thống sự hình thành, hoạt động và các thành tố cấu thành văn hóa kinh doanh của tầng lớp doanh nhân người Việt giai đoạn 1900–1945. Bằng cách tiếp cận liên ngành định tính kết hợp phân tích thư tịch lịch sử và phỏng vấn sâu, tác giả đã chứng minh bản sắc văn hóa kinh doanh gắn liền với tinh thần tự cường dân tộc, chữ tín và đạo lý làm giàu chân chính của các doanh nhân tiền bối. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp về mặt phân định lý luận văn hóa kinh doanh mà còn đúc kết những bài học lịch sử quan trọng cho công cuộc kiến tạo văn hóa kinh doanh Việt Nam trong bối cảnh phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.