CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VHKD TRONG CÁC DOANH NGHIỆP FDI TRUNG QUỐC Ở VIỆT NAM 1. Văn hoá kinh doanh Văn hóa hiện diện trong mọi hoạt động của đời sống con ngƣời nhƣ một yếu tố không thể thiếu của tổng thể xã hội. Các nhà nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu những sắc thái văn hóa của các hoạt động nhƣ: văn hóa chính trị, văn hóa pháp luật, văn hóa giáo dục, văn hóa gia đình. Kinh doanh là một hoạt động đặc thù của con ngƣời, do vậy nó cũng là một phạm trù của văn hóa.
Có khá nhiều quan niệm, định nghĩa về VHKD. Trƣớc khi đi đến một định nghĩa mang tính khái quát cao, chúng ta khảo sát một số định nghĩa điển hình: - Trong cuốn International business: Strategy, management and the new realities của 3 tác giả Cavusgil, Knight, Riesenberger quan điểm văn hóa trong kinh doanh (hay chính là VHKD) là: “Culture is the collective mental programming of people. It influences consumer behavior, managerial effectiveness, and the range of value-chain operations, such as product and service design, marketing (MKT), and sales. Culture is not inherited, right or wrong, or about individual behavior.
Culture is like an iceberg in that most of its elements and influence are hidden below the surface” [63, 153]. Tác giả tạm dịch: “Văn hóa (ở đây được hiểu chính là VHKD) là sự lập trình tập hợp trí tuệ của con người. Nó ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng, hiệu suất biên, và vị trí trong chuỗi sản xuất, cụ thể như sản phẩm và cấu trúc dịch vụ, tiếp thị, và bán hàng. Văn hóa không đơn giản chỉ là sự kế thừa, đúng hay là sai, hay là hành vi cá nhân.
Văn hóa giống như một tảng băng mà hầu hết nhân tố và ảnh hưởng của nó đều bị ẩn dưới bề mặt”. - Nếu nhƣ định nghĩa vừa rồi đƣa ra quan điểm trừu tƣợng về VHKD nhƣ một quá trình những tƣ duy trí tuệ cao để điều khiển hành vi trong kinh doanh thì Vern Terspstra và Kenneth David lại có quan điểm tƣơng đồng, tuy nhiên định nghĩa của 7 z 2 tác giả cụ thể hơn: "bao gồm những nguyên tắc điều chỉnh việc kinh doanh, việc ấn định ranh giới giữa hành vi cạnh tranh và các ứng xử vô đạo đức, những quy tắc phải tuân theo trong các thỏa thuận kinh doanh" [66, 14]. - Quan điểm về VHKD trong bài nghiên cứu của PGS-TS Lâm Quang Huyên về Hội nhập kinh tế khu vực và VHKD: “VHKD (hay kinh doanh có văn hóa) có nghĩa là hoạt động kinh tế có hiệu quả, đạt năng suất, sản lượng, giá trị cao, giá thành thấp, sản phẩm đạt chất lượng cao, tiêu thụ được sản phẩm trên thị trường trong nước và ngoài nước, làm đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước” [3,224]. - Quan điểm của 2 nhà nghiên cứu trong nƣớc đã đề cao vai trò của chữ Đức và các giá trị trừu tƣợng trong phƣơng thức tổ chức, quản lý sản xuất và dịch vụ nhằm mang lại hiệu quả cho sản xuất, kinh doanh nhƣng cũng mang lại lợi ích cho cộng đồng, xã hội.
Nhƣ vậy, theo quan điểm này thì VHKD là cách thức mà DN vận dụng để mang lại lợi ích cho mình và cho xã hội. Trong hệ thống quan điểm về VHKD là hệ thống cách thức để tạo nên dấu ấn, đặc trƣng của mỗi DN, tác giả Đỗ Minh Cƣơng đƣa ra khái niệm: “là việc sử dụng các nhân tố văn hóa vào trong hoạt động kinh doanh của chủ thể, là cái văn hóa mà các chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh hình thành nên những kiểu kinh doanh ổn định và đặc thù của họ…" [15, tr.TS Dƣơng Thị Liễu với sự phát hiện về bản chất của VHKD là “làm cho cái lợi gắn bó chặt chẽ với cái đúng, cái tốt và cái đẹp” đã đƣa ra khái niệm: “VHKD là toàn bộ các nhân tố văn hóa, được chủ thể kinh doanh chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh tạo nên bản sắc kinh doanh của chủ thể đó” [33, 23]. Khái niệm trên đây của PGS.TS Dƣơng Thị Liễu tuy không đề cập một cách cụ thể đến tác động của VHKD đến các nhân tố trong kinh doanh nhƣ sản phẩm, quan hệ khách hàng…nhƣng đã cụ thể hóa và khái quát hóa về một hệ thống các phạm trù tạo nên VHKD. Khái niệm VHKD trên đây phù hợp với nội dung nghiên cứu luận văn của tác giả và cũng gần với những vấn đề thực tiễn mà tác giả đã nghiên cứu khi tìm hiểu và chắt lọc tƣ liệu, tài liệu, số liệu để thực hiện luận văn, vì 8 z vậy, tác giả sẽ kế thừa và sử dụng khái niệm trên trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Nhƣ vậy, khái niệm VHKD trong luận văn này đƣợc hiểu là: “VHKD là toàn bộ các nhân tố văn hóa, được chủ thể kinh doanh chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh tạo nên bản sắc kinh doanh của chủ thể đó”. Văn hoá DN VHDN là khái niệm không mới, bởi VHDN đã đƣợc hiểu nôm na trong đời sống kinh tế xã hội nhƣ dấu ấn của DN. Đến với các công ty Nhật Bản, bạn sẽ nhận đƣợc sự cúi đầu chào đầy cảm kích, đến với các công ty Mỹ, Âu, bạn sẽ nhận đƣợc lời chào và tiếp theo là thiện ý chủ động muốn hài lòng đối phƣơng bằng câu hỏi: “May I help you?” (Tôi có thể giúp gì đƣợc ông (bà)?), bƣớc lên taxi của Mai Linh (Việt Nam), bạn sẽ đƣợc nghe lời chào quen thuộc: “Mai Linh xin cảm ơn quý khách đã sử dụng dịch vụ…”. Những câu chào hỏi, sự cúi đầu cảm kích…chỉ là một biểu hiện nhỏ của VHDN.
Ngày nay, các DN ngày càng chú trọng đến việc tạo dựng cho mình hình ảnh, dấu ấn riêng, dễ nhận biết trong hệ thống kinh tế hàng triệu DN. VHDN thƣờng đƣợc kết tinh từ chính nền văn hóa dân tộc, văn hóa xã hội nơi DN tồn tại, tuy nhiên, VHDN cũng đƣợc các chủ nhân DN học hỏi, đúc kết, sáng tạo để đƣa vào thực thi, tạo điểm đặc biệt, khác biệt cho DN của mình. Một khái niệm khác cũng đƣợc dùng để chỉ VHDN, đó là văn hóa tổ chức. Shwartz và Davis trong nghiên cứu năm 1982 đã đƣa ra khái niệm: “Văn hóa tổ chức là lối tư duy và lối làm việc đã thành thói quen truyền thống, nó được chia sẻ ở mức độ nhiều hay ít giữa tất cả các thành viên; những điều đó các thành viên mới phải học và ít nhất phải chấp nhận một phần để hòa đồng với các thành viên và tổ chức…” [35, 9].
Nếu Shwartz&Davis đƣa ra quan điểm về văn hóa nhƣ là sự thống nhất trong tổ chức thì Gold (1982) lại nhấn mạnh về tác động của văn hóa để tạo khác biệt: “Một phẩm chất thuộc cái riêng biệt về tổ chức – nó thể hiện mình có những phẩm chất khác thường, nó làm cho khác với những tổ chức khác trong cùng lĩnh vực” [35, 9]. Hay Robbins đã đƣa ra khái niệm về văn hóa tổ chức dựa trên tác 9 z động tạo dấu ấn cho tổ chức: “…văn hóa là hệ thống chia sẻ quan điểm nhận thức, quan điểm của các thành viên trong tổ chức, để phân biệt tổ chức này với tổ chức khác” [35, 10]. Tập bài giảng (BG) VHKD của trƣờng Đại học kinh tế quốc dân có đƣa ra quan điểm của tổ chức lao động quốc tế ILO: “VHDN là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết” [33,259]. Edgar Schein đã đƣa một khái niệm mà nhiều học giả đã sử dụng trong nghiên cứu của mình: “Văn hóa công ty là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh” [33,259].
Hai quan điểm trên thể hiện văn hóa công ty (hay DN) là những giá trị vô hình chung đã trở thành thói quen, thành truyền thống trong DN để xử lý các vấn đề nội bộ và các vấn đề có liên quan đến DN, các giá trị này cũng mang lại cho mỗi công ty một dấu ấn riêng. Nhà nghiên cứu Trần Quốc Dân đã đƣa ra một khái niệm tƣơng đối bao quát các khái niệm đã đề cập ở trên: “VHDN được hiểu là một hệ thống bao gồm những giá trị, truyền thống, tập quán, lối ứng xử, nghi lễ, biểu tượng, chuẩn mực được hình thành trong quá trình xây dựng và phát triển của DN, có khả năng lưu truyền, tạo nên bản sắc riêng, có tác động sâu sắc tới tâm lý và hành vi của tất cả các thành viên trong DN” [18, 71]. Khái niệm này đã đề cập đến các yếu tố, tính chất, tác động của VHDN. Tuy nhiên, khái niệm đƣợc đƣa trong cuốn bài giảng VHKD – Đại học Kinh tế quốc dân là khái niệm ngắn gọn, cô đọng và vẫn khái quát đƣợc những khía cạnh trên: “VHDN là toàn bộ những nhân tố văn hóa được DN chọn lọc, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của DN đó” [33, 260].
Đây cũng là khái niệm mang tính hệ thống và thống nhất với khái niệm về VHKD mà tác giả đã sử dụng, do đó, trong luận văn này, khái niệm VHDN sẽ đƣợc hiểu là: VHDN là toàn bộ những nhân tố văn hóa được DN chọn lọc, sử dụng và 10 z biểu hiện trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của DN đó. Các loại hình VHDN Để xây dựng văn hóa cho DN một cách có hệ thống, các DN cần nhận định mô hình văn hóa mà DN cần hƣớng đến. Theo các nhà nghiên cứu có hai cơ sở để phân loại loại hình VHDN. Cách thứ nhất, dựa trên vai trò và quyền lực của mỗi cá nhân trong tổ chức.Theo cách này, mô hình VHDN tồn tại dƣới bốn dạng: * Kiểu văn hóa quyền lực: Có thiết kế nhƣ hình mạng nhện, quyền lực ở trung tâm và một số cá nhân chủ chốt bao quanh trung tâm quyền lực sẽ nắm sự kiểm soát và gây ảnh hƣởng tới tổ chức.
Kiểu văn hóa này phù hợp với tổ chức nhỏ, không có luật thành văn, hoạt động năng động nhƣng bất an. * Kiểu văn hóa vai trò: Sự tồn tại của tổ chức phụ thuộc vào các thành viên của tổ chức mà các thành viên đểu có vai trò, quyền hạn nhất định, không đƣợc vƣợt qua hay nói cách khác, quyền lực của địa vị là nguồn lực chính, các thành viên liên kết với nhau nhƣ cột đền và sự tồn tại của tổ chức phụ thuộc vào cây cột này.