CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Dạy học phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh 1.1 Khái niệm năng lực Vấn đề năng lực của con người đã được nghiên cứu và tìm hiểu từ rất sớm, xuất phát từ những nhu cầu hiểu biết bản thân, hiểu biết về xung quanh và hiểu biết về thế giới vật chất. Khái niệm năng lực (competency) bắt nguồn từ tiếng La tinh “competentia” có ý nghĩa là “gặp gỡ”. Phạm vi năng lực thường được hiểu theo những cách khác nhau và tương ứng với mỗi cách đều có những thuật ngữ : - Năng lực có thể hiểu theo nghĩa chung nhất đó là khả năng mà con người thể hiện khi tham gia một hoạt động nào đó trong một thời điểm nhất định.
Chẳng hạn, khả năng giải toán, khả năng nói Tiếng Anh, khả năng trình bày hiểu biết của bản thân. thường được đánh giá bằng các câu trắc nghiệm trí tuệ. - Năng lực là khả năng của bản thân khi thực hiện một nhiệm vụ hay một hành động cụ thể một cách hiệu quả, có liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên nền tảng hiểu biết kĩ năng, kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động. - Các dấu hiệu cốt lõi cần hội tụ đủ để người học có năng lực hành động về một loại/ lĩnh vực hoạt động nào đó.
- Tiến hành tham gia hoạt động một cách hiệu quả và đạt được kết quả phù hợp với mục đích đặt ra. - Hành động có kết quả, biết cách ứng phó linh hoạt, đạt hiệu quả trong những điều kiện mới, không quen thuộc. 6 - Có kiến thức, hiểu biết hệ thống / chuyên sâu về loại / lĩnh vực hoạt động đó. Từ đó năng lực hành động được định nghĩa đó là: Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định.
Năng lực giải quyết vấn đề Năng lực GQVĐ được hiểu là năng lực hoạt động trí tuệ của con người trước những vấn đề, những bài toán cụ thể, có mục tiêu và có tính hướng đích cao đòi hỏi con người phải huy động khả năng suy nghĩ tích cực và sáng tạo nhằm tìm ra lời giải cho vấn đề. Năng lực GQVĐ có thể được hiểu là khả năng của con người biết phát hiện ra vấn đề cần giải quyết và biết vận dụng những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm của bản thân, sẵn sàng hành động để giải quyết tốt vấn đề đặt ra. Năng lực GQVĐ là tổng hợp các năng lực được thể hiện ở các kĩ năng (thao tác tư duy và hoạt động) trong hoạt động nhằm giải quyết có hiệu quả những nhiệm vụ của vấn đề đặt ra. Có thể nói năng lực GQVĐ có cấu trúc chung là sự tổng hòa của các năng lực trên.
Các định nghĩa đều tập trung vào bản chất là quá trình tư duy phức tạp, bao gồm sự hiểu biết, đưa ra quan điểm lập luận, suy luận, đánh giá, giao tiếp,… để đưa ra một hoặc nhiều giải pháp khắc phục khó khăn, thách thức của vấn đề và từ đó GQVĐ. Yêu cầu cần đạt được đối với HS THPT về năng lực GQVĐ được mô tả ở bảng 1. Các thành tố và biểu hiện của năng lực QGVĐ của HS THPT Các thành tố năng Biểu hiện lực GQVĐ HS phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề trong Phát hiện ra và làm học tập, trong cuộc sống và từ đó phân tích được tình rõ được vấn đề huống học tập, trong đời sống. Phát hiện được nhiều ý tưởng mới trong học tập và cuộc sống; tư duy theo hướng mở rộng không theo lối mòn; tạo ra yếu tố mới dựa trên những ý tưởng khác Hình thành và triển nhau; hình thành và biết gắn kết các ý tưởng lại với khai ý tưởng mới.
nhau; nghiên cứu để thay đổi giải pháp trước sự thay đổi của bối cảnh; đánh giá sự rủi ro và có dự phòng trong các tình huống phát sinh. Từ tình huống có vấn đề sau khi phát hiện ra, HS biết thu thập và làm rõ các thông tin có liên quan;đưa ra đề Đề xuất, lựa chọn xuất và phân tích được một số giải pháp để GQVĐ ; giải pháp sau đó lựa chọn được giải pháp phù hợp nhất với vấn đề phát hiện ra. -Xây dựng kế hoạch hoạt động có mục tiêu, nội dung rõ ràng, hình thức, phương tiện hoạt động phù hợp; - Tập hợp và điều phối được nguồn lực (nhân lực, vật Thiết kế và xây lực) cần thiết để tổ chức hoạt động. - Biết điều chỉnh dựng tổ chức hoạt và việc thực hiện kế hoạch, cách thức và tiến trình giải động quyết vấn đề sao cho phù hợp với hoàn cảnh để đạt kết quả cao.
- Từ đó đánh giá được hiệu quả của giải pháp và hoạt động. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực 1. Phát triển chương trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực Wiggins và McTighe (1998) đề xuất mô hình xây dựng chương chình đào tạo với thứ tự đảo ngược so với mô hình kiểu truyền thống (tức là không đi từ mục đích/mục tiêu,… mà đi từ kết quả). Phát triển chương trình theo cách này, việc dạy học sẽ dựa trên chuẩn đầu ra chứ không dựa trên nội dung.
Nghĩa là người dạy cần phải tập trung suy nghĩ nhiều hơn về vận dụng kiến thức được học để giải quyết các vấn đề dặt ra trong thực tiễn hơn là thuần truyền thụ kiến thức. [9] Những đặc điểm của một chương trình môn học được xây dựng dựa trên năng lực thực hiện đáp ứng chuẩn đầu ra: a. Có thể đo lường được, mô tả được năng lực đó một cách cụ thể; b. Nội dung dạy học được xây dựng dựa trên các mục tiêu xác định (thể hiện trên kết quả đầu ra - người học đạt khả năng / năng lực gì); c.
Những nội dung trong chương trình môn học người học sẽ phải tiếp thu cho đến khi họ chứng minh được có khả năng làm chủ những kĩ năng, kiến thức, cần thiết đã được xác định ở chuẩn đầu ra; d. Kĩ thuật dạy học và hoạt động nhóm được sử dụng đa dạng; e. Tập trung cụ thể vào những gì người học cần phải đạt được, trong bối cảnh thực tiễn phải vận dụng được các kiến thức, kĩ năng cơ bản; g. Phương tiện truyền thông, tài liệu và vật liệu thực tế của cuộc sống được sử dụng hướng đến mục tiêu năng lực đã đề ra; h.
Người học được cung cấp các thông tin giải đáp kịp thời về đánh giá năng lực thực hiện; i. Đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người học từng bước; k. Những năng lực đã xác định trong chương trình qua chuẩn đầu ra được người học chứng tỏ làm chủ được. Thiết kế bài học theo định hướng phát triển năng lực Một bài học thiết kế theo cách tiếp cận năng lực có đặc điểm sau: - Mục tiêu bài học định hướng vào việc mô tả kết quả học tập mong đợi (các khả năng, năng lực học sinh sẽ phải đạt được), chứ không phải nội dung kiến thức được GV truyền thụ.
- Các khả năng/năng lực mong muốn hình thành ở người học được xác định một cách rõ ràng, có thể quan sát, đánh giá được. Chúng được xem như là tiêu chuẩn để đánh giá kết quả đầu ra. - Thúc đẩy sự tương tác giữa GV - HS và giữa HS và HS, khuyến khích HS trao đổi/tranh luận, đánh giá, chia sẻ quan điểm/kinh nghiệm, thúc đẩy/cổ vũ tinh thần hợp tác, kĩ năng làm việc nhóm; - Tạo dựng một môi trường học tập thân thiện, HS cảm thấy thoải mái, hứng thú, tự tin; - Nhấn mạnh vào hoạt động tìm hiểu, khám phá, trải nghiệm, đặc biệt là vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống gắn với thực tế cuộc sống; - Chú trọng phát triển các năng lực tư duy bậc cao: năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tư duy phản biện, năng lực sáng tạo, năng lực siêu nhận thức; - Nhấn mạnh vào các hoạt động tự học qua khai thác, tìm kiếm/xử lí thông tin,… - Vai trò chính của GV là làm thay đổi người học như sẵn sang tiếp thu các khái niệm mới, tích cực thể hiện, tích cực tương tác, trải nghiệm, nghĩ về cách suy nghĩ, tăng cường hứng thú, sự tự tin, kích thích tư duy sáng tạo của người học. - Kết thúc bài học HS cảm thấy mình thay đổi và biết cách thay đổi/sáng tạo lại bản thân,… Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông ở nước ta nhằm vào các định hướng lớn về đổi mới mục tiêu giáo dục, đó là : Chuyển nền giáo dục từ chủ 10 yếu là dạy chữ sang nền giáo dục kết hợp hài hòa dạy chữ, dạy nghề, dạy người; Chuyển nền giáo dục từ chủ yếu nặng về ứng thí, sính bằng cấp sang nền giáo dục thực học, thực làm, coi trọng năng lực; Chuyển nền giáo dục từ chủ yếu đào tạo theo khả năng các cơ sở giáo dục sang đào tạo theo nhu cầu xã hội và nhu cầu của người học.
[1] Một khi mục tiêu giáo dục đã thay đổi thì toàn bộ các thành tố của quá trình giáo dục, bao gồm nội dung, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá cũng phải chuyển đổi theo một cách đồng bộ, nhất quán. Đánh giá năng lực giải quyết vấn đề của học sinh + Đánh giá kết quả và đánh giá quá trình - Đánh giá kết quả thường được sử dùng vào khi kết thúc một chủ đề học tập hoặc cuối một học kì, một năm, một cấp học. Cách đánh giá này thường sử dụng hình thức cho điểm và nó giúp cho người học biết được khả năng học tập của mình. - Đánh giá quá trình được sử dụng trong suốt thời gian học tập của môn học.
Cách đánh giá này là việc GV hoặc HS cung cấp thong tin phản hổi về hoạt động học của người học, giúp GV điều chỉnh hoạt động dạy phù hợp hơn, giúp HS có được các thông tin về hoạt động học và từ đó cải thiện những tồn tại. + Đánh giá theo chuẩn và đánh giá theo tiêu chí - Đánh giá theo tiêu chí, người học được đánh giá dựa trên các tiêu chí đã định rõ về thành tích, thay vì được xếp hạng trên cơ sở kết qua thu được.