LỜI MỞ ĐẦU Kinh tế là một lĩnh vực rất quan trọng không thể thiếu của mỗi quốc gia. Hoạt động này thu hút nhiều cá nhân , tổ chức trong xã hội tham gia , tạo nên một môi trường kinh tế rộng lớn. Khi đã tham gia hoạt động vào nền kinh tế thị trường thì nhu cầu về thông tin tài chính của các đơn vị là rất lớn. Nhà quản trị cần thông tin đề các quyết định kinh doanh, chỉ đạo tác nghiệp trực tiếp tại đơn vị, những nhà đầu tư cần thông tin để quyết định có nên đầu tư hay không .Nhà nước cần thông tin để kiểm tra , giám sát hoạt động của doanh nghiệp trên cơ sở đó để điều chỉnh nền kinh tế.Nhưng những thông tin đó thì ai cung cấp cho họ? Câu trả lời chính là các kế toán viên của đơn vị đó.
Như vậy kế toán có vai trò rất quan trọng đối với một đơn vị kinh tế nói riêng và đối với nền kinh tế nói chung. Nền kinh tế nước ta hiện nay đang trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, vì vậy xu thế cạnh tranh là một tất yếu. Các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải sử dụng rất nhiều phương pháp khác nhau để cạnh tranh nhằm đạt được mục tiêu lớn nhất là lợi nhuận và phát triển ổn định, trong đó giảm chi phí, hạ giá thành nhưng sản phẩm vẫn đảm bảo yêu cầu chất lượng là một biện pháp chủ yếu và quan trọng. Chi phí nguyên vật liệu là yếu tố quan trọng trong kết cấu giá thành, đó là đối tượng lao động, là một trong ba yếu tố quan trọng của quá trình sản xuất, là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể của sản phẩm.
Trong tình hình nguồn lực có hạn và sự khai thác tiềm năng sản xuất của đất nước chưa thực sự có hiệu quả và còn lãng phí quá nhiều. Nhiều nguyên vật liệu còn phải nhập từ nước ngoài, chính vì vậy việc ghi chép tình hình thu mua, nhập xuất dự trữ nguyên vật liệu đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin để đề ra các biện pháp quản lý nguyên vật liệu nói riêng, quản lý mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp nói chung một cách khoa học,hợp lý và đúng đắn, tránh lãng phí tài nguyên, tăng năng lực sản xuất, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. SVTH: Hồ Thị Anh Linh Page 1 MSV: 1924010744 Đồ án kế toán tài chính 2 GVHD:. Nguyễn Thị Huyền Trang Từ tầm quan trọng của nguyên vật liệu đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và xuất phát từ chức năng nhiệm vụ của công tác kế toán, có thể thấy rằng kế toán nguyên vật liệu đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp lãnh đạo doanh nghiệp nắm bắt được tình hình vật tư để chỉ đạo tiến độ sản xuất cũng như đến tính chính xác, kịp thời của hạch toán giá thành.
Từ những lý do trên và với những kiến thức đã được học, em đã mạnh dạn đi sâu tìm hiểu về công tác kế toán nguyên vật liệu tại công ty Cổ Phần May Hoa Lan. Dưới sự hướng dẫn tận tình của GV Nguyễn Thị Huyền Trang, em đã hoàn thành đồ án môn học kế toán tài chính 2 với đề tài : Tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu tại công ty Cổ Phần may Hoa Lan Nội dung đồ án gồm 3 phần: Phần I: Những vấn đề lý luận về kế toán nguyên vật liệu. Phần II: Thực trạng công tác hạch toán nguyên vật liệu tại Công ty Cổ Phần May Hoa Lan Phần III: Một số đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán tại công ty Cổ Phần May Hoa Lan Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình làm đồ án song do kiến thức còn hạn chế và những khó khăn khách quan, đồ án của em còn nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo để đồ án của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 2021 Sinh viên thực hiện Bùi Thị Liên SVTH: Hồ Thị Anh Linh Page 2 MSV: 1924010744 Đồ án kế toán tài chính 2 GVHD:. Nguyễn Thị Huyền Trang PHẦN I MỘT SỐ LÍ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ CÔNG CỤ DỤNG CỤ 1. Những vấn đề chung về nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ. Khái niệm và đặc điểm.
- Nguyên vật liệu ( NVL ): Là những đối tượng thể hiện dạng vật hóa , chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và toàn bộ giá trị của NVL được chuyển hết một lần vào chi phí kinh doanh trong kỳ. Trong quá trình tham gia vào quá trình sản xuất , dưới tác động của lao động , NVL bị tiêu hao toàn bộ hoặc bị thay đổi hình thái vật chất ban đầu để cấu thành thực thể của sản phẩm. - Công cụ dụng cụ ( CCDC): Là tư liệu lao động, các dụng cụ, đồ dùng không đủ tiêu chuẩn để ghi nhận là TSCĐ. Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất có giá trị thấp, thời gian sử dụng ngắn, do đó cần thiết phải dự trữ cho quá trình sản xuất kinh doanh , nhưng đồng thời cũng mang một số đặc điểm giống TSCĐ như: Một số loại CCDC có thể tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh mà vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu.
Trong mỗi doanh nghiệp do yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải sử dụng nhiều loại NVL, CCDC khác nhau. Do đó cần thiết phải phân loại NVL, CCDC để quản lý một cách chặt chẽ và tổ chức hạch toán chi tiết phục vụ cho yêu cầu quản trị doanh nghiệp. Phân loại NVL. * Căn cứ vào vai trò và tác dụng của NVL trong sản xuất , NVL được chia thành các loại sau: - Nguyên vật liệu chính: Là những thứ mà sau quá trình gia công, chế biến sẽ thành thực thể vật chất chủ yếu của sản phẩm (kể cả bán thành phẩm mua vào).
SVTH: Hồ Thị Anh Linh Page 3 MSV: 1924010744 Đồ án kế toán tài chính 2 GVHD:. Nguyễn Thị Huyền Trang - Vật liệu phụ: Là những vật liệu chỉ có tác dụng phụ trợ trong sản xuất, được sử dụng kết hợp với vật liệu chính để làm thay đổi màu sắc, hình dáng, mùi vị hoặc dùng để bảo quản, phục vụ hoạt động của các tư liệu lao động hay phục vụ cho lao động của công nhân viên chức (dầu nhờn, hồ keo, thuốc nhuộm, thuốc tẩy, thuốc chống rỉ, hương liệu, xà phòng, giẻ lau. - Nhiên liệu: Là những thứ dùng để cung cấp nhiệt lượng trong quá trình sản xuất, kinh doanh như than, củi, xăng, dầu, hơi đốt, khí đốt. - Phụ tùng thay thế: Là các chi tiết, phụ tùng dùng để sửa chữa và thay thế cho máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải.
- Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Bao gồm các vật liệu và thiết bị (cần lắp, không cần lắp, vật kết cấu, công cụ, khí cụ.) mà doanh nghiệp mua vào nhằm mục đích đầu tư cho xây dựng cơ bản. - Phế liệu: Là các loại vật liệu thu được trong quá trình sản xuất hay thanh lý tài sản, có thể sử dụng hay bán ra ngoài (phôi bào, vải vụn, gạch, sắt.) * Căn cứ vào nguồn gốc của NVL - NVL mua ngoài - NVL tự chế * Căn cứ mục đích và nơi sử dụng: - NVL mua trực tiếp dùng vào SXKD - NVL dung cho nhu cầu khác như quản lí phân xưởng, tiêu thụ sản phẩm… 1. Phân loại CCDC. Theo yêu cầu công tác quản lý và ghi chép kế toán , CCDC gồm: - Công cụ dụng cụ.
- Bao bì luân chuyển. - Đồ dùng cho thuê. Theo phương pháp phân bổ, CCDC bao gồm: - Loại phân bổ một lần. SVTH: Hồ Thị Anh Linh Page 4 MSV: 1924010744 Đồ án kế toán tài chính 2 GVHD:.
Nguyễn Thị Huyền Trang - Loại phân bổ nhiều lần. Phương pháp tính giá vật tư 1. Khái niệm: Tính giá NVL là phương pháp kế toán dùng thước đo tiền tệ để thể hiện trị giá của nguyên , vật liệu nhập – xuất và tồn kho trong kì. Nguyên tắc đánh giá vật tư * Nguyên tắc giá gốc: Theo chuẩn mực 02- Hàng tồn kho NVL phải dược đánh giá theo giá gốc.
Giá gốc hay giá trị vốn thực tế của NVL là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để có NVL ở địa điểm và trạng thái hiện tại. Giá gốc vật liệu bao gồm: Chi phí thu mua, chi phí chế biến và các chi phí có liên quan trực tiếp khác. * Nguyên tắc thận trọng: Theo chuẩn mực 02- Hàng tồn kho: Trong trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được của NVL thấp hơn giá gốc thì tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được. Giá trị thuần có thể thực hiện được là giá bán ước tính của NVL tồn kho trong kỳ sản xuất kinh doanh bình thường (- ) chi phí ước tính cần thiết để tiêu thụ chúng.
* Nguyên tắc nhất quán: Các phương pháp kế toán áp dụng trong đánh giá NVL phải đảm bảo tính nhất quán trong suốt niên độ kế toán, doanh nghiệp có thể thay đổi phương pháp đã chọn nhưng phải đảm bảo phương pháp thay thế cho phép trình bày thông tin kế toán một cách trung thực và hợp lý hơn, và đồng thời phải giải thích được sự ảnh hưởng đó. Phương pháp tính giá a. Tính giá NVL , CCDC nhập kho. Giá trị vốn thực tế của NVL, CCDC nhập kho được xác định theo từng nguồn nhập, từng lần nhập.
Cụ thể như sau: SVTH: Hồ Thị Anh Linh Page 5 MSV: 1924010744 Đồ án kế toán tài chính 2 GVHD:. Nguyễn Thị Huyền Trang * NVL nhập kho do mua ngoài: Giá trị thực tế Giá trị Thuế nhập Chi phí thu Các khoản giảm NVL = mua trên + khẩu + mua thực tế - giá mua được nhập kho hóa đơn (nếu có) phát sinh hưởng ( nếu có) - Trường hợp NVL mua vào đã sử dụng cho đối tượng chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ giá mua là giá chưa có thuế GTGT. - Trường hợp NVL mua vào được sử dụng cho các đối tượng không chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ hoặc sử dụng cho các mục đích phúc lợi thì giá mua bao gồm cả thuế GTGT ( tổng giá thanh toán ).