phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chƣơng. CHƢƠNG I: NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN VÀ NHỮNG YÊU CẦU ĐỐI VỚI TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN XÃ 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. NHỮNG ĐẶC TRƢNG CỦA NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN Nhà nƣớc pháp quyền là một hình thức chính trị pháp lý hợp lý để quản lý, xây dựng một xã hội văn minh, công bằng và dân chủ. Trong lịch sử tƣ tƣởng của nhân loại, tƣ tƣởng về Nhà nƣớc pháp quyền đã xuất hiện từ thời cổ đại nhƣng đến thế kỷ XVIII mới xuất hiện học thuyết về Nhà nƣớc pháp quyền.
Theo quan điểm của phƣơng Tây: Nhà nƣớc pháp quyền là vị thế pháp lý hay một hệ thống thể chế, nơi mỗi ngƣời đều phải phục tùng và tôn trọng luật pháp, từ cá nhân đơn lẻ cho tới cơ quan công quyền. Nhà nƣớc pháp quyền liên hệ chặt chẽ với sự tôn trọng trật tự thứ bậc của các quy phạm, tôn trọng sự phân chia quyền lực và tôn trọng các quyền căn bản. Nhà nƣớc pháp quyền là nhà nƣớc nơi những ngƣời đƣợc ủy quyền giao trọng trách thông qua phiếu bầu phải có trách nhiệm với những luật lệ mà họ ban ra. Lý thuyết phân quyền của Montesquieu vốn là nền tảng cho phần lớn Nhà nƣớc phƣơng Tây hiện đại khẳng định sự phân chia 3 quyền (lập pháp, hành pháp và tƣ pháp) và những giới hạn của 3 thứ quyền lực này.
Theo các nhà luật học Liên bang Nga thì có ba dấu hiệu cơ bản nhất của Nhà nƣớc pháp quyền: tổ chức quyền lực nhà nƣớc khoa học; phân định giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tƣ pháp trong cơ chế kiểm soát lẫn nhau, tự do dân chủ của công dân, bảo vệ quyền con ngƣời; tính tối cao của luật, sự thống trị của pháp luật, nhà nƣớc phải tự đặt mình dƣới pháp luật. Tại Hội nghị quốc tế về nhà nƣớc pháp quyền đƣợc tổ chức tại Bê-nanh, năm 1992, các luật gia đã đƣa ra nhiều khái niệm, tiêu chí về một nhà nƣớc pháp quyền và đƣợc đông đảo dƣ luận quốc tế đồng tình, bao gồm: sự thừa nhận tính tối cao của pháp luật; việc xác định quyền lập pháp, hành pháp, tƣ pháp trong bộ máy quyền lực nhà 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nƣớc; việc tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của con ngƣời, tôn trọng pháp luật quốc tế v. Ở Việt Nam, ngay từ buổi đầu đƣợc thành lập cũng nhƣ trong suốt quá trình xây dựng – phát triển của mình, Nhà nƣớc ta đã mang những yếu tố của Nhà nƣớc pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đảng và Nhà nƣớc ta đã có những nỗ lực to lớn nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cƣờng pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Hiến pháp năm 1992 đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2001 ghi nhận quan điểm xây dựng nhà nƣớc pháp quyền: "Nhà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân , vì nhân dân" (Điều 2). Việc ghi nhận đó là cơ sở pháp lý xác định mục tiêu xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền ở Việt Nam. Qua nghiên cứu sự hình thành, phát triển và các quan điểm lý luận về nhà nƣớc pháp quyền hiện nay, chúng ta có thể xác định, Nhà nƣớc pháp quyền là nhà nƣớc trong đó phƣơng thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nƣớc do pháp luật quy định và thừa nhận tính tối cao của pháp luật; bao hàm việc xác định rõ ràng quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp, với hệ thống pháp luật đầy đủ, rõ ràng, minh bạch, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân để điều chỉnh những quan hệ pháp luật phát sinh trong xã hội, nhất là việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cơ bản của công dân (hoặc con ngƣời nói chung). Thực tiễn của 20 năm đổi mới vừa qua đã khẳng định, yêu cầu xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền dƣới sự lãnh đạo của Đảng nhƣ một xu thế khách quan, tất yếu, mang tính quy luật của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội.
Vì vậy, việc nghiên cứu các đặc trƣng cơ bản của Nhà nƣớc pháp quyền là định hƣớng, là mô hình quan điểm cho việc xây dựng các thiết chế Nhà nƣớc và 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp luật cụ thể nói chung cũng nhƣ tổ chức, hoạt động của chính quyền xã nói riêng. Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nƣớc của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Cái gốc của chế độ trong Nhà nƣớc pháp quyền là xác lập dân chủ, tức là thừa nhận và đảm bảo thực hiện quyền lực của nhân dân. Nội dung này luôn đƣợc khẳng định là một trong những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo việc xây dựng Nhà nƣớc ta. Hiến pháp 1946 – bản Hiến pháp đầu tiên đã quy định tại Điều 1: “Nƣớc Việt Nam là một nƣớc dân chủ cộng hòa.
Tất cả quyền bình trong nƣớc là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp và tôn giáo”. Nguyên tắc đó đƣợc khẳng định trong các Hiến pháp tiếp theo và đến Hiến pháp 1992 đƣợc hoàn thiện hơn: “Nhà nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nƣớc của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nƣớc thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức” (Điều 2). Khẳng định quyền lực Nhà nƣớc thuộc về nhân dân không chỉ là nguyên tắc cơ bản đƣợc ghi nhận trong Hiến pháp mà còn gắn liền với việc thành lập các cơ chế đảm bảo thực hiện quyền lực thực sự của nhân dân.
Nhân dân tạo lập nên Nhà nƣớc, trực tiếp và thông qua các cơ quan đại diện cho mình thực thi quyền lực Nhà nƣớc. Ở những mức độ khác nhau, nhân dân có thể tác động một cách tích cực vào quá trình thực hiện quyền lực nhà nƣớc. Trong các phạm vi khác nhau của hoạt động nhà nƣớc, pháp luật cũng đã tạo ra những điều kiện về mặt pháp lý để thu hút sự tham gia rộng rãi, sự đóng góp tích cực của công dân vào quản lý nhà nƣớc và xã hội (Điều 53 Hiến pháp 1992): quyền tham gia các tổ chức xã hội, quyền khiếu nại – tố cáo…Về bản chất, các thiết chế chính trị và quyền lực nhà nƣớc đều đặt mình dƣới sự giám 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sát của nhân dân (Điều 8 Hiến pháp 1992). Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam đã ghi rõ: “Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”.
Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp Trong Nhà nƣớc pháp quyền, ý chí của nhân dân, sự lựa chọn chính trị đƣợc xác lập một cách tập trung nhất, đầy đủ nhất và cao nhất bằng Hiến pháp. Chính vì vậy, Hiến pháp đƣợc coi là đạo luật cơ bản của Nhà nƣớc và có hiệu lực pháp lý cao nhất. Do vị trí đặc biệt quan trọng của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật, trong sinh hoạt của nhà nƣớc và trong sinh hoạt của một xã hội nói chung nên Hiến pháp đƣợc xem là luật cơ bản của nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa. Điều này đƣợc thể hiện ở các nội dung sau đây: Thứ nhất, Hiến pháp không phải là một loại văn bản pháp lý thông thƣờng, do cơ quan nhà nƣớc bất kỳ ban hành mà do một cơ quan nhà nƣớc có vị trí đặc biệt thông qua.
Ở Việt Nam, Quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nƣớc cao nhất có quyền thông qua Hiến pháp, tức là làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp. Thứ hai, Hiến pháp là một văn bản có hiệu lực cao nhất quy định việc tổ chức quyền lực Nhà nƣớc, là hình thức pháp lý thể hiện một cách tập trung hệ tƣ tƣởng của giai cấp lãnh đạo. Thứ ba, đối tƣợng điều chỉnh của Hiến pháp rất rộng, có tính chất bao quát tất cả các lĩnh vực của sinh hoạt xã hội: chế độ chính trị, chế độ kinh tế, đƣờng lối phát triển khoa học, kỹ thuật, văn hóa, giáo dục, đƣờng lối quốc phòng toàn dân, cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nƣớc, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ tư, các quy định của Hiến pháp là nguồn, là căn cứ cho tất cả các ngành luật thuộc hệ thống pháp luật Việt Nam.
Các luật và các văn bản dƣới luật không đƣợc mâu thuẫn mà phải phù hợp với tinh thần, nội dung của Hiến pháp; đƣợc ban hành trên cơ sở Hiến pháp, để thi hành Hiến pháp. Vì thế trong Nhà nƣớc pháp quyền, các quy định của Hiến pháp phải thực sự ổn định, có tính pháp lý cao nhất và có khả năng phát huy hiệu lực trực tiếp. Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, đảm bảo vị trí tối thƣợng của pháp luật trong đời sống xã hội Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung, do Nhà nƣớc đặt ra hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế, xã hội, điều chỉnh các quan hệ xã hội điển hình, phổ biến giữa các chủ thể với nhau, thiết lập trật tự, kỷ cƣơng xã hội. Pháp luật của Nhà nƣớc ta là kết quả của sự thể chế hóa đƣờng lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, đối nội, đối ngoại.
Pháp luật thể hiện ý chí nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với hiện thực khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội. Vì vậy, nói đến pháp luật Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nói đến tính khách quan của các quy định pháp luật chứ không phải chỉ nói đến nhu cầu đặt ra pháp luật, áp dụng pháp luật, tuân thủ pháp luật một cách chung chung. Pháp luật của Nhà nƣớc ta là phƣơng tiện thể hiện đƣờng lối chính sách của Đảng cộng sản, bảo vệ chế độ chính trị, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.