Tổng quan nghiên cứu

Dải bờ biển Việt Nam dài trên 3.260 km hàng năm phải gánh chịu trung bình 5,9 cơn bão và áp thấp nhiệt đới trực tiếp đổ bộ, gây ra triều cường, nước dâng và sóng lớn tàn phá hệ thống đê điều. Tại tỉnh Thái Bình, nơi có 11.750 ha rừng ngập mặn với dải cây xanh che chắn ven bờ, sự hiện diện của thảm thực vật đã chứng minh vai trò giảm nhẹ thiên tai vượt trội. Cụ thể, trong cơn bão Frankie năm 1996 với sức gió 103 đến 117 km/h, tuyến đê huyện Thái Thụy có đai rừng bảo vệ vẫn an toàn, trong khi huyện Tiền Hải bị vỡ đầm và xói lở nghiêm trọng do suy giảm diện tích rừng. Tương tự, bão Damrey năm 2005 đã đánh sạt lở 650 m đê biển không có rừng tại xã Thái Đô, trong khi các đoạn đê có rừng ngập mặn liền kề hoàn toàn nguyên vẹn.

Vấn đề đặt ra là việc định lượng thủy động lực học sóng truyền qua rừng ngập mặn còn nhiều khoảng trống do tương tác phức tạp giữa sóng biển, dòng chảy và cấu trúc cây ngập mặn. Mục tiêu của nghiên cứu là xây dựng và ứng dụng mô hình số trị để tính toán chi tiết quá trình lan truyền, suy giảm năng lượng sóng khi đi qua dải rừng ngập mặn tại khu vực cửa sông Trà Lý, tỉnh Thái Bình. Phạm vi nghiên cứu bao quát vùng ven bờ cửa Trà Lý trong tọa độ 20°20' đến 20°37' vĩ độ Bắc và 106°32' đến 106°50' kinh độ Đông, sử dụng chuỗi số liệu khí tượng hải văn 50 năm giai đoạn 1960–2010. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa then chốt khi cung cấp bộ chỉ số tiêu tán năng lượng sóng, phục vụ trực tiếp công tác thiết kế đê biển sinh thái và quy hoạch không gian bờ biển bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết sóng tuyến tính Airy kết hợp phương trình bảo toàn mật độ năng lượng sóng và mô hình phổ sóng hai chiều thế hệ ba SWAN (Simulating Waves Nearshore). Trong môi trường sóng ven bờ, các hiện tượng khúc xạ, sóng vỡ do độ sâu và tương tác phi tuyến ba sóng, bốn sóng được mô tả thông qua phương trình cân bằng tác động phổ. Khi sóng tiến vào đai rừng ngập mặn, cơ chế tiêu tán năng lượng chủ yếu không phải do sóng vỡ mà xuất phát từ lực cản thủy lực do cấu trúc cây tạo ra.

Khung lý thuyết tích hợp công thức lực Morison và mở rộng theo phương pháp Dalrymple cùng mô hình cải tiến của Mendez và Losada năm 2004. Các khái niệm trọng tâm bao gồm: phổ mật độ tác động sóng, hệ số tiêu tán năng lượng của thực vật, lực cản áp suất và hệ số suy giảm chiều cao sóng. Cấu trúc cây ngập mặn được phân tầng theo không gian thẳng đứng thành ba lớp riêng biệt gồm tầng rễ, tầng thân và tầng tán lá để mô phỏng chính xác sự biến đổi của profile vận tốc hạt nước.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm bình đồ địa hình đáy bãi triều cửa Trà Lý với độ dốc đáy 1:2000, kết hợp chuỗi dữ liệu sóng, gió, mực nước quan trắc liên tục nhiều năm tại trạm Hải văn Hòn Dáu và số liệu thực nghiệm đo đạc tại Thụy Hải. Phương pháp phân tích chủ đạo là mô hình hóa số trị 2D bằng cách phát triển mã nguồn bổ sung hàm nguồn tiêu tán năng lượng do thực vật vào mô hình SWAN. Kỹ thuật chia lưới lồng hai cấp được áp dụng: lưới thô ngoài khơi gồm 297 x 281 nút mạng với kích thước ô lưới 110 m x 110 m trên diện tích 32,56 km x 30,8 km; lưới tinh ven bờ gồm 245 x 261 nút mạng với kích thước ô lưới chi tiết 22 m x 22 m trên phạm vi 5,72 km x 5,368 km.

Cỡ mẫu tính toán bao gồm 83.457 điểm tính lưới thô và 63.945 điểm tính lưới tinh, xử lý chuỗi thống kê 52 đợt nước dâng bão trên 1,2 m trong 30 năm. Phương pháp chọn mẫu điển hình được áp dụng tại cửa sông Trà Lý do đây là vùng bờ lõm tích tụ phù sa đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộ có đai rừng phòng hộ trưởng thành. Mô hình SWAN lồng lưới được lựa chọn vì khả năng phản ánh toàn diện các quá trình truyền sóng phi tuyến từ vùng nước sâu ngoài vịnh Bắc Bộ vào bãi cạn ven bờ với độ chính xác thủy lực cao. Tiến độ nghiên cứu được thực hiện qua các giai đoạn: xử lý chuỗi số liệu 1960–2010, kiểm nghiệm mô hình với thực nghiệm hiện trường và mô phỏng các kịch bản sóng theo các cấp mực nước triều.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã lượng hóa chi tiết mức độ tiêu tán năng lượng sóng khi đi qua dải rừng ngập mặn cây Trang với các kịch bản mật độ và mực nước triều khác nhau:

  • Thứ nhất, với điều kiện sóng đầu vào có chiều cao hữu hiệu 1,543 m và chu kỳ 5,155 s, dải rừng ngập mặn làm giảm mạnh chiều cao sóng ngay từ 100 m đầu tiên; hệ số suy giảm sóng đạt từ 0,05 đến trên 0,20 tương ứng với hệ số cản biến thiên từ 0,05 đến 0,12.
  • Thứ hai, ở điều kiện mực nước triều thấp 0,5 m, chiều cao sóng ngoài khơi 1,03 m bị triệt tiêu gần như hoàn toàn khi truyền qua dải rừng mật độ 0,5 cây/m², chỉ còn 0,10 m khi tới bờ biển (suy giảm hơn 90% chiều cao sóng).
  • Thứ ba, ở mực nước triều trung bình 1,86 m, sóng truyền tới chân bờ giảm xuống mức 0,36 m; trong khi ở mực nước triều cao kết hợp nước dâng 3,5 m, chiều cao sóng duy trì ở mức 0,55 m, giảm khoảng 46,6% so với trường hợp bãi trống không có rừng.
  • Thứ tư, khi mật độ cây tăng từ 0,5 cây/m² lên 3,0 đến 5,0 cây/m², năng lượng sóng tiêu tán tập trung mạnh mẽ ngay tại vành đai ngoài từ 200 m đến 500 m đầu tiên của khu rừng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của sự suy giảm sóng là do lực cản kéo sinh ra bởi chênh lệch áp suất khi dòng hạt nước chuyển động va đập vào hệ thống thân, cành và rễ cây ngập mặn. Giá trị tiêu tán do cây lớn hơn ma sát đáy tự nhiên ít nhất một bậc độ lớn. Khi mực nước triều dâng cao vượt quá chiều cao cây (mực nước 3,5 m so với chiều cao cây 1,95 m), lớp nước mặt nằm phía trên vòm lá không còn chịu lực cản trực tiếp từ tán cây, dẫn đến tỷ lệ tiêu tán năng lượng suy giảm so với giai đoạn triều thấp ngập trọn thân cây.

Dữ liệu mô phỏng từ SWAN cải tiến cho thấy sự tương thích rất cao với kết quả thực nghiệm hiện trường của các chuyên gia thủy động lực học tại bãi biển Thụy Hải, với sai số tương đối dưới 5%. Toàn bộ kết quả tính toán được biểu diễn trực quan qua các biểu đồ mặt cắt biến đổi chiều cao sóng dọc theo phương truyền từ khơi vào bờ, kết hợp bảng ma trận phân tích độ cao sóng ở ba cấp mực nước (0,5 m; 1,86 m; 3,5 m) và bản đồ đẳng trị trường sóng 2D. Kết quả này khẳng định đai rừng ngập mặn đóng vai trò như một đê giảm sóng tự nhiên vô cùng hiệu quả.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả tính toán thủy động lực học, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp công trình và phi công trình cụ thể:

  • Mở rộng và phục hồi đai rừng ngập mặn phòng hộ ven biển tại cửa sông Trà Lý đạt bề rộng tối thiểu từ 800 m đến 1.200 m, duy trì mật độ từ 4.000 đến 6.500 cây/ha đối với các loài cây Trang, Sú, Vẹt; hướng tới mục tiêu hấp thụ trên 70% năng lượng sóng bão trước khi tiếp cận chân đê; do Chi cục Đê điều và Phòng chống thiên tai tỉnh Thái Bình chủ trì triển khai trong giai đoạn 2025–2030.
  • Tích hợp mô đun tiêu tán sóng của rừng ngập mặn vào quy chuẩn tính toán thiết kế đê biển tại huyện Thái Thụy và Tiền Hải, cho phép giảm chiều cao lưu không thiết kế đê từ 0,5 m đến 0,8 m, giúp tiết kiệm khoảng 15% đến 20% chi phí xây dựng công trình kè cứng kiên cố; giao các đơn vị tư vấn thiết kế thủy lợi áp dụng ngay từ năm 2024.
  • Thiết lập hệ thống trạm quan trắc hải văn tự động kết hợp phân tích ảnh viễn thám định kỳ 6 tháng/lần để giám sát biến động diện tích 11.750 ha rừng ngập mặn và diễn biến xói lồi đường bờ biển; do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Bình phối hợp cùng các viện nghiên cứu chuyên ngành quản lý vận hành từ năm 2025.
  • Ban hành chính sách giao khoán bảo vệ rừng gắn với mô hình sinh kế nuôi trồng thủy sản sinh thái bền vững dưới tán rừng ngập mặn, triệt tiêu 100% tình trạng phá rừng tự nhiên làm đầm nuôi tôm tại các xã ven biển Thái Đô, Thụy Hải; do Ủy ban nhân dân các huyện ven biển tổ chức thực thi và giám sát thường niên.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:

  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Hải dương học, Thủy văn công trình và Quản lý tài nguyên biển: Cung cấp cơ sở lý thuyết chuẩn mực về thuật toán cải tiến mô hình SWAN 3 tầng và phương pháp số trị tính toán tương tác sóng - thực vật.
  • Kỹ sư tư vấn thiết kế công trình thủy lợi, cảng biển và bảo vệ bờ kè: Ứng dụng bộ tham số suy giảm sóng thực tế để tối ưu hóa kết cấu mặt cắt đê, giảm kinh phí đầu tư công trình bảo vệ bờ biển.
  • Cán bộ quản lý tại Chi cục Đê điều, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự các tỉnh ven biển: Sử dụng số liệu dự báo sóng bão và nước dâng để xây dựng phương án hộ đê, ứng phó thiên tai tại các vị trí xung yếu.
  • Các chuyên gia môi trường, tổ chức phi chính phủ và Ban quản lý rừng phòng hộ: Khai thác luận cứ khoa học định lượng để xây dựng dự án trồng rừng ngập mặn thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

Câu hỏi thường gặp

  • Cơ chế vật lý chủ yếu nào làm suy giảm năng lượng sóng trong rừng ngập mặn? Năng lượng sóng tiêu tán chủ yếu do lực kéo áp suất khi các phần tử nước chuyển động va đập liên tục vào hệ thống thân, cành và rễ cây ngập mặn, sinh ra lực cản thủy lực lớn hơn ma sát đáy bãi triều tự nhiên ít nhất một bậc độ lớn.

  • Dao động mực nước triều ảnh hưởng như thế nào đến khả năng giảm sóng của đai rừng? Khi triều thấp (0,5 m), sóng ngập trọn trong thân rễ nên năng lượng bị triệt tiêu trên 90%. Khi triều dâng cao vượt tán cây (3,5 m), lớp nước mặt không còn tiếp xúc với tán lá, hiệu suất giảm sóng giảm xuống còn khoảng 46,6%.

  • Mô hình SWAN cải tiến trong đề tài có điểm gì vượt trội so với phiên bản tiêu chuẩn? Mô hình đã bổ sung hàm nguồn tiêu tán sóng do thực vật phân tầng thành 3 lớp rễ, thân và tán lá theo phương đứng, cho phép mô phỏng chính xác profile vận tốc hạt nước thay vì chỉ sử dụng hệ số nhám đáy đơn lẻ.

  • Bề rộng đai rừng ngập mặn tối thiểu bao nhiêu là đạt yêu cầu bảo vệ đê biển cửa Trà Lý? Kết quả mô phỏng chỉ ra dải rừng ngập mặn cần có bề rộng tối thiểu từ 800 m đến 1.200 m với mật độ từ 4.000 đến 6.500 cây/ha để đảm bảo triệt tiêu phần lớn năng lượng sóng bão trước khi tiến tới thân đê.

  • Luận văn đã kiểm chứng độ tin cậy của thuật toán tính toán bằng phương pháp nào? Mô hình số trị được hiệu chỉnh và so sánh trực tiếp với chuỗi số liệu đo đạc thực địa tại bãi triều Thụy Hải trong cùng điều kiện động lực học, cho kết quả tương đồng với độ sai lệch dưới 5%.

Kết luận

  • Luận văn đã tích hợp thành công thuật toán tiêu tán năng lượng sóng 3 tầng cấu trúc thực vật vào mô hình số trị thế hệ ba SWAN.
  • Lượng hóa chính xác khả năng suy giảm chiều cao sóng từ 46,6% đến trên 90% tùy thuộc vào mực nước triều và mật độ rừng ngập mặn tại cửa sông Trà Lý.
  • Cung cấp cơ sở khoa học tin cậy khẳng định vai trò của 11.750 ha rừng ngập mặn Thái Bình như một giải pháp công trình xanh giảm nhẹ thiên tai và nước dâng bão.
  • Thiết lập hệ thống lưới tính lồng tinh vi 22 m x 22 m giúp mô phỏng chi tiết trường sóng vùng ven bờ phục vụ quy hoạch đê điều giai đoạn 2025–2030.
  • Khuyến nghị các nhà hoạch định chính sách và kỹ sư công trình ứng dụng ngay phương pháp tính toán thủy động lực học này vào thực tiễn xây dựng hệ thống đê biển sinh thái thích ứng biến đổi khí hậu trên toàn dải ven biển Việt Nam.