Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình trạng dinh dưỡng và phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng 1. Một số khái niệm cơ bản * Tình trạng dinh dưỡng Tình trạng dinh dưỡng (TTDD) có thể được định nghĩa là tập hợp các đặc điểm cấu trúc, các chỉ tiêu hoá sinh và đặc điểm các chức phận của cơ thể phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng [55]. Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể.
Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ảnh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ, khi cơ thể thiếu hoặc thừa dinh dưỡng là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc vấn đề về dinh dưỡng. TTDD là kết quả tác động của một hay nhiều yếu tố như: tình trạng an ninh thực phẩm hộ gia đình, thu nhập thấp, điều kiện vệ sinh môi trường, công tác chăm sóc trẻ em, gánh nặng công việc lao động của bà mẹ…[55], [56]. TTDD tốt phản ảnh sự cân bằng giữa thức ăn vào và tình trạng sức khoẻ, khi mất sự cân bằng này thì có thể dẫn đến tình trạng thiếu hoặc thừa dinh dưỡng [55], [56]. * Suy dinh dưỡng Suy dinh dưỡng trẻ em là sự mất cân bằng giữa nhu cầu dinh dưỡng và lượng nhập vào ở trẻ, dẫn đến việc thâm hụt tích lũy năng lượng, protein hoặc vi chất dinh dưỡng, có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự tăng trưởng, phát triển và những vấn đề có liên quan khác ở trẻ [55], [56].
* Thừa cân, béo phì Thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao. Còn béo phì là tình trạng tích lũy mỡ thái quá và không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ [55], [56]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng Một số phương pháp định lượng chính thường được sử dụng trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng như: Nhân trắc học, điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống, các thăm khám thực thể/dấu hiệu lâm sàng, các xét nghiệm cận lâm sàng, các kiểm nghiệm chức phận, điều tra tỷ lệ bệnh tật và tử vong…trong đó phương pháp nhân trắc và điều tra khẩu phần ăn được sử dụng nhiều nhất, số đo nhân trắc là các chỉ số đánh giá trực tiếp tình trạng dinh dưỡng [55], [56].
Nhân trắc học dinh dưỡng với mục đích đo các biến đổi về kích thước và cấu trúc cơ thể theo tuổi và tình trạng dinh dưỡng. Phương pháp nhân trắc học có những ưu điểm là đơn giản, an toàn và có thể điều tra trên một mẫu lớn. Trang thiết bị không đắt, dễ vận chuyển. Có thể khai thác đánh giá được các dấu hiệu về tình trạng dinh dưỡng trong quá khứ và xác định được mức độ suy dinh dưỡng.
Tuy nhiên phương pháp nhân trắc học cũng có một vài nhược điểm như: không đánh giá được sự thay đổi về tình trạng dinh dưỡng trong giai đoạn ngắn hoặc không nhạy để xác định các thiếu hụt dinh dưỡng đặc hiệu [55], [56]. WHO đã khuyến cáo có 3 chỉ tiêu nhân trắc nên dùng là cân nặng theo tuổi, cân nặng theo chiều cao và chiều cao theo tuổi và đề nghị lấy điểm ngưỡng ở dưới 2 độ lệch chuẩn (-2SD) [67]: * Cân nặng theo tuổi: Là chỉ số được dùng sớm nhất và phổ biến nhất. Chỉ số này được dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của cá thể hay cộng đồng. Cân nặng theo tuổi thấp là hậu quả của thiếu dinh dưỡng hiện tại.
Chỉ số cân nặng theo tuổi nhạy có thể quan sát trong 1 thời gian ngắn. * Chiều cao theo tuổi: Phản ánh tiền sử dinh dưỡng. Chiều cao theo tuổi thấp phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài hoặc thuộc về quá khứ làm cho đứa trẻ bị còi. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 * Cân nặng theo chiều cao: Là chỉ số đánh giá tình trạng dinh dưỡng hiện tại.
Chỉ số này phản ánh tình trạng SDD cấp hay còn gọi “Wasting”. Cân nặng theo chiều cao thấp phản ánh sự không tăng cân hay giảm cân nếu so sánh với trẻ có cùng chiều cao, chính là phản ánh mức độ thiếu ăn và nhiễm khuẩn là hai nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này. Trên thực tế tiêu chuẩn tăng trưởng trẻ em của WHO dựa trên chiều dài nằm/chiều cao đứng, cân nặng và tuổi [67]. * Theo Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá thừa cân, béo phì và suy dinh dưỡng: theo bảng phân loại Z-score của WHO 2007 cho trẻ từ 10 đến 19 tuổi [70]: - Đánh giá chỉ số Z-score chiều cao theo tuổi: + SDD thể thấp còi mức độ vừa: Z-score < - 2 SD đến - 3SD.
+ SDD thể thấp còi mức độ nặng: Z-score < - 3SD. + Tình trạng dinh dưỡng bình thường: - 2 SD ≤ Z- score ≤ + 2 SD. - Đánh giá chỉ số Z-score BMI theo tuổi: + SDD thể gày còm mức độ vừa: Z-score < - 2SD đến - 3SD. + SDD thể gày còm mức độ nặng: Z-score < - 3 SD.
+ Tình trạng dinh dưỡng bình thường: - 2 SD ≤ Z-score ≤ + 1 SD. + Thừa cân: + 1SD < Z-score < + 2 SD + Béo phì: Z-score ≥ + 2 SD. Tình trạng dinh dưỡng ở lứa tuổi vị thành niên Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) lứa tuổi 10 -19 tuổi là độ tuổi vị thành niên: là một giai đoạn chuyển tiếp của sự phát triển từ tuổi thơ sang người lớn: “tuổi không còn là trẻ con nữa, nhưng cũng chưa phải là người lớn”. Đây là giai đoạn đặc biệt duy nhất của con người, nó được đánh dấu bằng những thay đổi đồng loạt và xen lẫn nhau từ giản đơn sang phức tạp bao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 gồm: sự chín muồi về thể chất, sự biến đổi điều chỉnh tâm lý và các quan hệ xã hội nhằm đáp ứng nhiệm vụ phát triển [42].
Tuổi vị thành niên là giai đoạn phát triển bắt đầu ở tuổi dậy thì và kết thúc ở tuổi trưởng thành sớm. Thông thường nhất, tuổi thiếu niên được chia thành ba giai đoạn phát triển: tuổi vị thành niên sớm (10-14 tuổi), tuổi vị thành niên muộn (15-19 tuổi) và tuổi trưởng thành trẻ (20-24 tuổi) [34]. Thanh thiếu niên chiếm khoảng 20% dân số toàn cầu và khoảng 84% trong số này sống ở các nước đang phát triển [35]. Ở Việt Nam, theo số liệu điều tra dân số năm có khoảng gần 15% dân số nước ta ở độ tuổi vị thành niên (10-19 tuổi) [10].
Do sự tăng trưởng nhanh chóng, trong giai đoạn này, nhu cầu ăn uống của thanh thiếu niên cao hơn đối với hầu hết các chất dinh dưỡng so với bất kỳ giai đoạn nào khác của cuộc sống [37]. Giải quyết nhu cầu dinh dưỡng của thanh thiếu niên có thể là một bước quan trọng để phá vỡ vòng luẩn quẩn của suy dinh dưỡng giữa các thế hệ, các bệnh mạn tính và nghèo đói [47]. Hậu quả của việc suy dinh dưỡng và béo phì đồng thời ở thanh thiếu niên có khả năng gây ra các vấn đề sức khỏe phức tạp ở tuổi thiếu niên và sau này ở tuổi trưởng thành, đặc biệt đối với phụ nữ vì nguy cơ sản khoa tăng cao có thể dẫn đến sự phát triển kém của thai kỳ [65]. Nhẹ cân ở tuổi thiếu niên có liên quan đến sự trưởng thành chậm trễ, sức mạnh cơ bắp kém dẫn đến hạn chế về năng lực làm việc thể chất và giảm mật độ xương sau này.
Béo phì ở tuổi thiếu niên có liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc các bệnh mạn tính sớm khi trưởng thành (đái tháo đường tuýp 2, tăng huyết áp) và tử vong. Lứa tuổi vị thành niên có giai đoạn dậy thì - giai đoạn có thể phát triển nhanh cả về chiều cao, trọng lượng, cơ bắp và có những biến đổi về tâm sinh lý nên đã có những vấn đề phát sinh như hành vi tình dục và những ảnh hưởng khi không có đủ kiến thức: mang thai ngoài ý muốn, sinh con sớm, các bệnh lây nhiễm nhiễm qua đường tình dục đặc biệt là HIV/AIDS có ảnh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hưởng rất lớn đến tương lai sau này của các em [64]. Do đó, nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng cao, đặc biệt là vitamin và chất khoáng (A, D, C, sắt, calci.) giúp cho các em phát triển bình thường. Việc bổ sung chất đạm đóng góp đáng kể vào tổng lượng dinh dưỡng ở trẻ em và thanh thiếu niên [62].
Chất đạm là nền tảng xây dựng cơ thể và đặc biệt quan trọng với lứa tuổi này. Chất béo cần thiết với số lượng vừa phải, tránh ăn quá nhiều chất béo. Tinh bột cũng là phần quan trọng trong quá trình ăn uống của trẻ vị thành niên vì nó là chất cung cấp nhiều năng lượng và có trong những thực phẩm giá rẻ. Cần quan tâm đặc biệt đến nhu cầu dinh dưỡng của lứa tuổi này nhất là đối với nữ giới vị thành niên [60].
Tình trạng dinh dưỡng trong thời thơ ấu có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của tuổi dậy thì và có thể giải thích tới 25% sự thay đổi trong thời gian dậy thì [63]. Tình trạng dinh dưỡng của các em là yếu tố quan trọng góp phần làm xuất hiện sớm hay muộn một trong các dấu hiệu phát triển sinh lý của trẻ. Trẻ em gái cần được nuôi dưỡng tốt trong hiện tại cũng như để chuẩn bị làm mẹ trong tương lai. Tầm vóc của người mẹ là yếu tố dự đoán quan trọng về chiều cao của trẻ.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy các thiếu nữ có tình trạng dinh dưỡng tốt thường có hành kinh sớm so với các thiếu nữ có tình trạng dinh dưỡng kém. Tốc độ tăng trưởng nói chung ở thiếu nữ có hành kinh sớm cao hơn so với thiếu nữ có hành kinh muộn [29]. Theo một số nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước cho thấy tỉ lệ bất thường kinh nguyệt ở các bé gái lứa tuổi dậy thì dao động từ 50-80%, tỉ lệ này có thể tăng lên ở lứa tuổi 12-16. Theo kết quả khảo sát trên 1.217 nữ sinh trường THCS tỷ lệ có kinh là 65,2%, có kinh lần đầu ở độ tuổi trung bình là 11,9, trung vị là 12 [23].Trong đó thống kinh là một bất thường kinh nguyệt thường gặp nhất ở lứa tuổi này, chiếm 50-90% trường hợp.
Tại Việt Nam năm 2003 và 2004 có hai nghiên cứu cho thấy tỉ lệ thống kinh lần lượt là 66,2% và 67,25%. Hơn nữa dậy thì sớm còn làm tăng tỉ lệ thống kinh [24]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.