MỞ ĐẦU Môi trường là một nhân tố ảnh hưởng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi con người, mỗi quốc gia trên toàn thế giới. Chính vì vậy, bảo vệ môi trường và đảm bảo phát triển bền vững là vấn đề có tính sống còn đối với môi dân tộc, mỗi quốc gia. Nước ta đang ở trong thời kỳ phát triển và hội nhập, trong công cuộc CNH - HĐH đất nước, đã có nhiều dự án được mở ra nhằm thúc đẩy các ngành công nghiệp, dịch vụ. cũng như nền kinh tế của đất nước.
Tuy nhiên sự phát triển ồ ạt của các nhà máy, xí nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghiệp đã và đang tác động không nhỏ đến chất lượng môi trường tự nhiên cũng như môi trường xã hội. Đã có nhiều nhà máy xả thẳng các chất gây ô nhiễm ra môi trường mà không qua xử lý, hoặc xả nước thải chưa đạt tiêu chuẩn vào môi trường, điển hình là vụ công ty bột ngọt Vedan đã thải trộm nước thải ra sông Thị Vải, gây thiệt hại lớn cho người dân và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống. Vì vậy hiện nay vấn đề ô nhiễm môi trường ở nước ta đang trở thành vấn đề đáng báo động và cần có các biện pháp cũng như các chế tài pháp lý hữu hiệu để ngăn ngừa, giảm thiểu tình trạng gây ô nhiễm môi trường. Với lòng yêu nghề sâu sắc và được sự đồng ý của lãnh đạo công ty Cổ phần tư vấn dự án và môi trường bền vững, em đã thực hiện đề tài : “ Tính toán thiết kế, vận hành thử nghiệm hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt và nước thải in công suất 35 m 3/ngày cho công ty TNHH Quốc tế SinJooBoo” tại phường Hưng Đạo - quận Dương Kinh - thành phố Hải Phòng.
Sinh viên thực hiện: Hoàng Văn Tùng - Lớp MT1202 1 Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Hải Phòng CHƢƠNG I:TỔNG QUAN VỀ NGÀNH MAY MẶC I.1 Tổng quan Ngành may mặc là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân nước ta. Nó đóng một vai trò quan trọng, nó cung cấp một mặt hàng không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của nhân dân. Ngành may mặc nước ta có những điều kiện thuận lợi cho phát triển như: nguồn nhân lực trẻ, dồi dào, thị trường tiêu thụ trong nước lớn (hơn 80 triệu dân), ngoài ra có thị trường tiêu thụ tiềm năng tương đối lớn ở nước ngoài. Bên cạnh đó, khí hậu nước ta rất phù hợp để phát triển nguồn nguyên liệu tự nhiên cho ngành dệt.
Mặt khác, khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho ngành may mặc nước ta phát triển hơn nữa. Các nước thành viên trong tổ chức thương mại thế giới đã bãi bỏ hạn ngạch xuất khẩu và ưu đãi về thuế cho ngành may mặc Việt Nam tham gia thị trường trong nước. Trong những năm qua, kim ngạch xuất khẩu của ngành may mặc luôn đứng thứ hai trong tổng số những ngành có sản phẩm xuất khẩu (đứng sau kim ngạch xuất khẩu của dầu mỏ) thu về nguồn ngoại tệ lớn và đóng góp phần không nhỏ vào ngân sách của nhà nước. Tính đến cuối tháng 10/2011, may mặc là ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, đạt 11,7 tỷ USD và chiếm tới 17% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Đây thực sự là những con số ấn tượng và nhiều ý nghĩa, bởi trong bối cảnh nền kinh tế còn nhiều khó khăn, giá nguyên phụ liệu cho sản xuất may mặc liên tục tăng trong khi đó sức mua và tiêu dùng giảm mạnh thì những con số đã trên đã minh chứng cho những nỗ lực vượt khó của ngành may mặc đồng thời góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Cụ thể, với những thị trường truyền thống của ngành may mặc Việt Nam như: Mỹ, EU, Nhật Bản vẫn giữ được mức tăng ổn định, tính đến hết tháng 10, kim ngạch xuất khẩu vào Mỹ tăng 14%, EU tăng 41% và Nhật Bản tăng 52% so với cùng kỳ. Còn những thị trường mới nổi của ngành may mặc như: Hàn Quốc, Đài Loan, Canada… cũng có mức tăng trưởng rất ấn tượng, đơn cử như thị trường Hàn Sinh viên thực hiện: Hoàng Văn Tùng - Lớp MT1202 2 Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Hải Phòng Quốc, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này 10 tháng đã tăng 128% so với cùng kỳ và đạt 753 triệu USD. Ở Việt Nam quá trình phát triển của may mặc - một bộ phận trong ngành may mặc bắt đầu phát triển từ năm 1954.
Đến nay, ngành công nghiệp này đã phát triển qua 4 giai đoạn: - Từ năm 1954 – 1975: Đây là giai đoạn đầu tiên, được coi như là tiền đề của ngành may mặc. Các sản phẩm may mặc chủ yếu phục vụ cho công cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc: quần áo, balô, cờ đều gửi ra tiền tuyến, còn nhu cầu trong dân chúng chưa nhiều, chủ yếu là tự may vá. - Năm 1976 – 1990: Thời kì xây dựng hoà bình và hợp tác toàn diện với các nước xã hội chủ nghĩa. Ngành may mặc Việt Nam phát triển nhanh chóng về năng lực sản xuất.
Các doanh nghiệp may mặc Nhà nước được thành lập. Các sản phẩm may mặc phục vụ nhu cầu trong nước và cung cấp cho các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu theo các chỉ tiêu đã định sẵn. Nhìn chung thời kì này chỉ là 1 bước đệm để may mặc xâm nhập sâu hẳn vào đời sống. - Năm 1991 – 1999: Thời kì Việt Nam bắt đầu mở cửa kinh tế, sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ngành may mặc bắt đầu hội nhập nhanh chóng, các sản phẩm không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà đã bắt đầu xuất khẩu sang các thị trường khó tính như: Mỹ, EU, Nhật, Canada. Trong giai đoạn này, doanh nghiệp may mặc Việt Nam Vinatex được thành lập (4/1995). Doanh nghiệp may mặc lớn nhất lúc bấy giờ, bao gồm 60 doanh nghiệp thành viên. Quyết định thành lập Vinatex nằm trong chiến lược phát triển may mặc Việt Nam trong đó có may mặc.
Các sản phẩm may mặc bắt đầu khẳng định vị thế trên các thị trường lớn. - Năm 1999 đến nay: Quá trình hội nhập sâu rộng Việt Nam vào thị trường quốc tế, chúng ta tham gia khu vực mậu dịch tự do các nước ASEAN, các diễn đàn hợp tác kinh tế khu vực và thế giới. Đặc biệt 11/2006 Việt Nam gia nhập WTO, thị trường thế giới hoàn toàn mở rộng với Việt Nam. Đồng thời thị trường nước ta cũng họp tác mở để thu hút các doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư.
Ngành may mặc đã có những phát triển đột phá. Nhiều doanh nghiệp Sinh viên thực hiện: Hoàng Văn Tùng - Lớp MT1202 3 Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Hải Phòng Việt Nam đã có uy tín trên thị trường quốc tế, được nhiều khách hàng trong nước và ngoài nước biết đến như: Việt Tiến, Nhà Bè, Phương Đông, May Sài Gòn, May Thành Công, May An Phước. Mỗi năm ngành may mặc sản xuất gần 2 tỷ sản phẩm, 65% số này phục vụ xuất khẩu, số còn lại là phục vụ thị trường nội địa. Ngành may mặc tại Việt Nam trong những năm qua có nhiều bước tiến vượt bậc và hòa nhập vào thị trường quốc tế.
Việt Nam nằm trong nhóm 10 quốc gia xuất khẩu sản phẩm may mặc lớn nhất thế giới trong những năm qua (năm 2009 xếp thứ 8). Xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang các nước EU và Nhật Bản cũng đã đạt lần lượt 1,92 tỷ và 1,22 tỷ USD. Con số này tương đương với mức tăng 43,7% và 52,8%. Xuất khẩu sang các thị trường nói trên hiện chiếm tới gần 20% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 10% so với năm ngoái.Với những diễn biến tích cực này, kim ngạch xuất khẩu may mặc của Việt Nam dự kiến sẽ đạt tới 13,7 tỷ USD trong năm nay.
Điều này có nghĩa là sẽ tăng 20,5% so với năm ngoái và vượt khoảng 500 triệu USD so với mục tiêu đề ra đầu năm. Tuy may mặc có nhiều cơ hội để tiếp tục khẳng định vị thế của mình trên thị trường trong nước và quốc tế nhưng cũng có nhiều khó khăn đang nổi cộm: - Đầu tiên phải kể đến nguồn nguyên liệu khi khoảng 70% nguyên liệu vải nhập từ nước ngoài, nguồn vải trong nước đáp ứng không đủ và chất lượng không cao. - Đối với thị trường trong nước, mối đe doạ của hàng Trung Quốc nhập lậu, hàng Trung Quốc giá rẻ, hàng may mặc từ các nước khác trong khu vực, dòng sản phẩm cao cấp từ Châu Âu là rất lớn. - Xuất khẩu cần phải qua nhiều khâu trung gian, 70% sản phẩm xuất khẩu vào EU qua các nước trung gian phân phối như Hồng Kông, Đài Loan.
Điều này làm tăng chi phí cho hoạt động xuất khẩu, bên cạnh đó, vấn đề thương hiệu cũng không được đảm bảo. - Một số thị trường lớn của ngành may mặc chưa thực sự mở cửa đối với hàng Việt Nam. Trong đó, có thể kể đến Quota, Mỹ thì có cơ chế giám sát gắt gao, chế độ luật pháp phức tạp, luôn đe doạ đến sản phẩm xuất khẩu của may Sinh viên thực hiện: Hoàng Văn Tùng - Lớp MT1202 4 Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Hải Phòng sắn nước ta. Việc Mỹ kiện Việt Nam trong việc bán phá giá 1 số sản phẩm là một minh hoạ cụ thể cho khó khăn này.2 Các nguồn phát sinh nƣớc thải trong ngành may mặc Nước thải của các nhà máy may mặc phát sinh từ hai nguồn chính: II.1 Nước thải sinh hoạt May mặc và may dày da có rất đông công nhân nên đây là nguồn phát sinh nước thải, chủ yếu từ nhà vệ sinh và bếp ăn.
Nước thải sinh hoạt có các chất hưu cơ, vi khuẩn. gây ô nhiễm với nồng độ thấp phù hợp với biện pháp xử lý sinh học.2 Nước thải sản xuất Phát sinh từ việc sử dụng hóa chất tẩy rửa, dung môi.và từ công đoạn in lụa các chi tiết nhỏ lẻ. Chúng ta sử dụng biện pháp hóa lý để xử lý nước thải. Khảo sát các nguồn thải của nhà máy nhằm đánh giá mức độ ô nhiễm, từ đó đưa ra phương pháp xử lý tối ưu nhằm giảm chi phí đầu tư cho nhà máy.
Nếu nhà máy có cả hai nguồn thải là nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất ta cần tách dòng để xử lý riêng biệt.