ĐẶT VẤN ĐỀ Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực. Nƣớc ta hiện nay đang chuyển mình để hòa nhập cùng nền kinh tế thế giới, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa không ngừng phát triển kéo theo là đô thị hóa. Quá trình đô thị hóa nhanh kéo theo vấnđề di dân từ nông thôn ra thành thị, làm cho quá trình phát triển theo hƣớng bền vững cảu đất nƣớc đang phải đối mặt với những khó khăn trong việc đảm bảo chất lƣợng môi trƣờng và ngăn chặn, giảm thiểu suy thoái tài nguyên, đặc biệt là chất lƣợng môi trƣờng sống tại các đô thị. Tính bình quân đầu ngƣời, dân số đô thị tiêu dùng tài nguyên thiên nhiên nhƣ năng lƣợng, vật phẩm, nguyên nhiên vật liệu.gấp 2-3 lần so với ngƣời dân sinh sống ở nông thôn; chất thải do dân đô thị thải ra cũng cao gấp 2- 3 lần ngƣời dân nông thôn.
Dân số ở các khu đô thị tăng nhanh và nhanh hơn so với tốc độ mở rộng không gian đô thị, nhu cầu về chỗ ở rất nhiều. Bởi lẽ đó mà các khu chung cƣ đang mọc lên ngày càng nhiều. Chung cƣ giải quyết đƣợc vấn đề chỗ ở cho ngƣời dân nhƣng song song với đó là tạo ra một nguồn thải lớn, tập trung, đặc biệt là nƣớc thải sinh hoạt. Thành phần nƣớc thải sinh hoạt với mùi khó chịu, chứa nhiều chất gây ô nhiễm nhƣ chất hữu cơ, dầu mỡ, hóa chất tẩy rửa.và vi khuẩn gây bệnh, kèm theo lƣợng thải lớn nếu trực tiếp thải ra hệ thống thoát nƣớc chung của khu vực hoặc ra các sông sẽ gây ô nhiễm môi trƣờng không khí và đặc biệt là môi trƣờng nƣớc mặt cho khu chung cƣ và các khu vực xung quanh.
Các sông nhƣ sông Tô Lịch, sông Nhuệ, sông Đáy.đã bị ô nhiễm nặng, các sinh vật không có khả năng sinh sống đƣợc ở đây, đây đƣợc coi nhƣ là các dòng sông chết do nhận đƣợc quá nhiều nguồn nƣớc thải không qua xử lý. Nƣớc thải sinh hoạt không qua xử lý thải ra hệ thống thoát nƣớc chung gây mùi hôi thối cho các mƣơng, cống rãnh,vào ngày mƣa, đƣờng mƣơng thoát nƣớc bị tắc nghẽn do nhiều rác chặn lại, nƣớc đƣờng không thoát xuống đƣợc, không những thế, nƣớc thải ở mƣơng còn trào lên, gây mất mỹ quan, ô nhiễm môi trƣờng 1 nghiêm trọng. Nƣớc thải sinh hoạt trong thành phần còn có nhiều vi khuẩn vi rút gây bệnh, chƣa qua xử lý mà thải ra ngoài là tạo điều kiện cho các dịch bệnh phát sinh. Tòa tháp BID Tower là dự án chung cƣ 25 tầng nằm trên đƣờng Trƣờng Chinh, phƣờng Khƣơng Trung, quận Thanh Xuân, Hà Nội là một dự án chuẩn bị đƣợc khởi công năm 2016, tại khu đất nghiên cứu xây dựng hiện đang có 06 hộ dân sinh sống, kiến trúc kiểu nhà gạch, với hệ thống hạ tầng kỹ thuật đã cũ, chƣa có hệ thống thoát nƣớc mƣa, thƣờng gây ứ đọng lầy lội; hệ thống nƣớc thải khu đất do các hộ dân tự thiết kế, xây dựng và sử dụng trong thời gian dài đã xuống cấp và gây ô nhiễm môi trƣờng xung quanh.
Vì vậy, khi xây dựng dự án cần kèm theo xây dựng lại hệ thống xử lý nƣớc thải sinh hoạt. Đề tài “Tính toán hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt cho chung cư BID Tower 317 Trường Chinh, Thanh Xuân, Hà Nội” đƣợc tôi lựa chọn nhằm đề xuất phƣơng án xây dựng hệ thống xử thải phù hợp nhất cho dự án, đảm bảo môi trƣờng sống an toàn, sạch sẽ cho cƣ dân tòa nhà BID Tower, đồng thời góp phần bảo vệ môi trƣờng chung cho khu vực. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về ô nhiễm môi trƣờng Theo khoản 8, điều 3, Chƣơng I Luật Bảo vệ môi trƣờng ngày 23 tháng 06 năm 2014, Ô nhiễm môi trƣờng là sự biến đổi của các thành phần môi trƣờng không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trƣờng và tiêu chuẩn môi trƣờng gây ảnh hƣởng xấu đến con ngƣời và sinh vật.
Thực trạng ô nhiễm môi trường trên thế giới và ở Việt Nam 1. Trên thế giới Thế giới đang quan tâm nổi bật 2 vấn đề ô nhiễm: ô nhiễm không khí và ô nhiễm nguồn nƣớc, mỗi năm hơn chục triệu cái cái chết gây ra bởi chỉ riêng ô nhiễm không khí và thiếu nƣớc sạch. *Về ô nhiễm môi trường không khí: Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới WHO năm 2014 về ô nhiễm không khí, dựa trên số liệu về mức độ ô nhiễm của 1.600 thành phố trên khắp 19 quốc gia. WHO đã sử dụng hệ thống đánh giá có tên là PM2.5 đƣợc coi là hệ thống tốt nhất đƣợc dùng để đánh giá tác động của ô nhiễm không khí lên sức khỏe và xác định nồng độ bụi ô nhiễm có đƣờng kính từ 2,5 micromet trở xuống.
Những hạt bụi ô nhiễm này có thể là khói, bụi bẩn, nấm mốc hoặc phấn hoa, đƣợc tổng hợp từ những kim loại nặng và các hợp chất hữu cơ độc hại. Là những mối nguy hiểm lớn cho cơ thể con ngƣời nếu bị tích lũy trong hệ thống hô hấp. Theo WHO, chỉ số PM2.5 đƣợc coi tạm an toàn là 25 microgram/m3. Dƣới đây là 3 nƣớc ô nhiễm nhất dựa theo chỉ số PM2.5 mà Tổ chức Y tế thế giới WHO công bố.
Hiện có rất nhiều nƣớc trên thế giới có chỉ số PM2.5 vƣợt quá mức an toàn, tiêu biểu là Pakistan với chỉ số PM2.5 trung bình: 100 microgram/m3. Ô nhiễm không khí ở các khu đô thị của Pakistan khiến hàng ngàn ngƣời chết mỗi năm.000 ca nhập viện mỗi năm do các bệnh liên quan đến đƣờng hô hấp, trong đó có 8.000 trƣờng hợp viêm phế quản mãn tính và gần 5 triệu trẻ em dƣới 5 tuổi mắc bệnh đƣờng hô hấp.1: Ô nhiễm không khí ở Pakistan Lý do ô nhiễm không khí ở Pakistan là nhiều nhà máy cùng ngành công nghiệp chế biến, khai thác khoáng sản đã khiến môi trƣờng ở đây trở nên trầm trọng.600 ngƣời trƣởng thành là nạn nhân của ô nhiễm không khí. *Về môi trường nước: Tình hình ô nhiễm nguồn nƣớc trên các con sông lớn đang trở nên nghiêm trọng, có hàng trăm con sông đã và đang đứng trƣớc nguy cơ cạn kiệt tài nguyên và không thể tái tạo lại. Nguyên nhân chủ yếu do lƣợng nƣớc thải sinh hoạt và công nghiệp chƣa qua xử lý trực tiếp thải vào quá lớn.
Tiêu biểu nhƣ con sông Citarum, Indonesia, rộng 13.000km2, là một trong những dòng sông lớn nhất của Indonesia. Theo số liệu của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), sông Citarum cung cấp 80% lƣợng nƣớc sinh hoạt cho 14 triệu dân thủ đô Jakarta, tƣới cho những cánh đồng cung cấp 5% sản lƣợng lúa gạo và là nguồn nƣớc cho hơn 2.000 nhà máy - nơi làm ra 20% sản lƣợng công nghiệp của đảo quốc này.2: Ô nhiễm ở sông Citarum (Nguồn: mạng) Dòng sông này là một phần không thể thay thế trong cuộc sống của ngƣời dân vùng Tây đảo Java. Nó chảy qua những cánh đồng lúa và những thành phố lớn nhất Indonesia. Tuy nhiên, hiện tại nó là một trong những dòng sông ô nhiễm nhất thế giới.
Citarum nhƣ một bãi rác di động, nơi chứa các hóa chất độc hại do các nhà máy xả ra, thuốc trừ sâu trôi theo dòng nƣớc từ các cánh đồng và cả chất thải do con ngƣời đổ xuống. Ô nhiễm nghiêm trọng khiến cá chết hàng loạt, ngƣời dân sử dụng nƣớc cũng bị lây nhiễm nhiều loại bệnh tật. Điều kinh hoàng hơn cả là nhiều hộ dân sống quanh dòng sông này hàng ngày vẫn sử dụng nƣớc sông để giặt giũ, tắm rửa, thậm chí cả đun nấu. Tại Việt Nam Kế hoạch 5 năm 2006 – 2010 là kỳ kế hoạch đầu tiên đƣợc xây dựng theo hƣớng phát triển bền vững, toàn diện trên cả 3 lĩnh vực: kinh tế, xã hội và môi trƣờng.
Bảo vệ môi trƣờng và tài nguyên thiên nhiên là một trong các vấn đề lớn đƣợc Chính phủ và các Bộ, ngành có liên quan hết sức quan tâm với 8 nhóm chỉ tiêu về tài nguyên và môi trƣờng đƣợc đặt ra. Tuy nhiên, có tới 04 chỉ tiêu về môi trƣờng không đạt kế hoạch đề ra, còn lại 4 chỉ tiêu đạt và xấp xỉ đạt. Trong các chỉ tiêu về môi trƣờng, chỉ tiêu về tỷ lệ các cơ sở gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng đƣợc xử lý đạt 75% (tháng 12/2010), vƣợt chỉ tiêu đặt 5 ra là 70% (chỉ tiêu cần phải đạt đƣợc năm 2007) (nếu tính chung thì chƣa đạt chỉ tiêu); chỉ tiêu về tỷ lệ dân số nông thôn đƣợc sử dụng nƣớc hợp vệ sinh đạt 79% so với chỉ tiêu kế hoạch là 75%. Chỉ tiêu hoàn thành kém nhất là tỉ lệ khu công nghiệp, công xƣởng đang hoạt động có hệ thống xử lý nƣớc thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trƣờng: kế hoạch đề ra là 100% khu công nghiệp, công xƣởng đang hoạt động có hệ thống xử lý nƣớc thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trƣờng nhƣng đến năm 2009 mới đạt 60%.
[2] * Về ô nhiễm đất: Ô nhiễm môi trƣờng đất đƣợc xem là tất cả các hiện tƣợng làm nhiễm bẩn môi trƣờng đất bởi các chất ô nhiễm. Tại Việt Nam, các nguyên nhân chính gây ô nhiễm đất bao gồm: - Ô nhiễm đất do sử dụng không hợp lý phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật: Theo các số liệu về hiện trạng sử dụng phân bón hóa học hiện nay, việc sử dụng phân bón hóa học không cân đối, không đúng lúc cây cần, hàng năm một lƣợng lớn phân bón bị rửa trôi hoặc bay hơi đã làm xấu đi môi trƣờng sản xuất nông nghiệp và môi trƣờng sống, đó cũng là những tác nhân gây ô nhiễm đất, nƣớc và không khí. Lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong phòng trừ dịch dại không tuẩn thủ các quy trình kĩ thuật, không đảm bảo thời gian cách ly của từng loại thuốc đã dẫn đến những hậu quả nhiều trƣờng hợp ngộ độc thực phẩm, đồng ruộng bị ô nhiễm. Một số nơi dƣ lƣợng thuốc bảo vệ thực vật có trong đất đã xấp xỉ bằng hoặc vƣợt ngƣỡng giá trị cho phép theo QCVN 15:2008/BTNMT (Biểu đồ 1.1: Dƣ lƣơng hóa chất bảo vệ thực vật trong đất tại một số khu vực Nam Định (tháng 06/2007) (Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Nam Định, 2010) - Ô nhiễm đất do các chất ô nhiễm từ hoạt động công nghiệp, xây dựng và dân sinh: Các hoạt động xây dựng, sản xuất và khai thác mỏ gây ra những tác động vật lý nhƣ xói mòn, nén chặt đất và phá hủy cấu trúc đất.