Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỀ CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THUỘC VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI 1. Khái niệm và đặc điểm của các tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc về nhân thân người phạm tội 1. Khái niệm các tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc về nhân thân người phạm tội Trước khi đưa ra khái niệm về tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc về nhân thân người phạm tội, cần phải hiểu được khái niệm về hai yếu tố chính cấu thành nên các tình tiết này đó chính là “Tình tiết giảm nhẹ” và “Nhân thân người phạm tội”. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS được sử dụng khá nhiều và đóng vai trò quan trọng là một trong những căn cứ để Tòa án quyết định hình phạt.
Tuy nhiên, BLHS năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) không đưa ra khái niệm mà chỉ liệt kê các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong Khoản 1 Điều 46 và quy định Tòa án có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trong Khoản 2 Điều 46. Trong khoa học pháp lý nước ta, quan niệm về vấn đề này cũng chưa thống nhất. TSKH Lê Văn Cảm quan niệm rằng “Tình tiết giảm nhẹ TNHS là tình tiết được quy định trong Phần chung BLHS với tính chất là tình tiết giảm nhẹ chung hoặc là tình tiết do Tòa án tự xem xét, cân nhắc và được ghi rõ trong bản án (nếu trong vụ án hình sự không có tình tiết này), đồng thời là một trong những căn cứ để cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền và Tòa án tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cá thể hóa TNHS và hình phạt của người phạm tội theo hướng giảm nhẹ hơn trong phạm vi một khung hình phạt” [15, tr.17] 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Từ điển pháp luật hình sự, Tình tiết giảm nhẹ TNHS là “Tình tiết ảnh hưởng đến mức độ TNHS của trường hợp phạm tội cụ thể theo hướng làm giảm xuống so với trường hợp bình thường”.240] Hay theo quan điểm của TS. Trần Thị Quang Vinh lại cho rằng “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiết của vụ án hình sự, liên quan đến việc giải quyết trách nhiệm hình sự, có ý nghĩa làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phản ánh khả năng cải tạo tốt hoặc hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội đáng được khoan hồng và giá trị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của chúng chưa được ghi nhận trong chế tài.45] Nhìn chung, đa số ý kiến cho rằng, tình tiết giảm nhẹ TNHS là tình tiết được quy định trong BLHS với tính chất là tình tiết giảm nhẹ chung hoặc là tình tiết được ghi nhận trong văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hay do Tòa án tự xem xét, cân nhắc và ghi rõ trong bản án, đồng thời là một trong những căn cứ để Tòa án cá thể hóa TNHS và hình phạt đối với người phạm tội.
Về bản chất, Các tình tiết giảm nhẹ TNHS là những biểu hiện về các điều kiện, hoàn cảnh, tình huống có ảnh hưởng đến việc thực hiện tội phạm, qua đó phản ánh mức độ nguy hiểm ít hơn của hành vi phạm tội và là cơ sở để người phạm tội có thể chịu TNHS ở mức thấp hơn. Tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định trong BLHS, trong các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hoặc do Toà án cân nhắc, xem xét quyết định trong quá trình xét xử các vụ án cụ thể, phản ảnh chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội. Nhân đạo là một trong những nguyên tắc chủ đạo của pháp luật hình sự. Theo Từ điển tiếng Việt, "Tình tiết" được hiểu là sự việc nhỏ trong quá trình diễn biến của sự kiện, tâm trạng [Xem: 63, tr.
Do vậy, tình tiết giảm nhẹ TNHS có thể hiểu là những sự việc nhỏ trong một vụ án có ý nghĩa làm giảm mức độ TNHS của người phạm tội. Nói cách khác, trong vụ án hình 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sự những tình tiết nào có ý nghĩa làm giảm mức độ TNHS sẽ được coi là tình tiết giảm nhẹ TNHS. Còn “Giảm nhẹ TNHS" có thể được hiểu là việc miễn, giảm tác động cưỡng chế hình sự thuộc nội dung của TNHS. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS có thể hiểu ở một số cấp độ với những vai trò khác nhau.
Ở cấp độ bao trùm nhất, tình tiết giảm nhẹ TNHS là bất kỳ tình tiết nào mà sự hiện diện của nó làm giảm bớt mức độ TNHS. Như vậy, ở cấp độ này, các tình tiết giảm nhẹ TNHS là các tình tiết định tội giảm nhẹ, định khung giảm nhẹ, các tình tiết giảm nhẹ tại Điều 46 và các điều luật khác tại phần chung BLHS, cũng như các tình tiết được áp dụng theo khoản 2 điều 46. Ở cấp độ thứ hai, các tình tiết giảm nhẹ TNHS là những tình tiết có ý nghĩa giảm nhẹ TNHS trên cơ sở đã có một sự chuẩn mực xác định về TNHS. Theo nghĩa này, tình tiết giảm nhẹ TNHS là những tình tiết được quy định và áp dụng theo quy định tại phần chung BLHS (không bao gồm tình tiết định tội, định khung giảm nhẹ) [Xem: 70, tr.
Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả chỉ nên hiểu “Các tình tiết giảm nhẹ TNHS” ở đây theo nghĩa là các tình tiết có vai trò làm giảm TNHS của người phạm tội một cách thuần túy. Bởi mặc dù có một số trường hợp xuất hiện tình tiết thuộc tình tiết được liệt kê tại Điều 46 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), nhưng lại đóng vai trò là tình tiết định tội (Ví dụ như tình tiết “Phạm tội do lạc hậu” là tình tiết định tội đối với tội “Giết con mới đẻ”), như vậy nó sẽ không đóng vai trò giảm nhẹ TNHS nữa nên không thể gọi nó bằng tên “Tình tiết giảm nhẹ TNHS" được bởi nó không được coi là có giá trị giảm nhẹ TNHS đối với người phạm tội. Từ những nghiên cứu trên, tác giả xin đưa ra khái niệm tình tiết giảm nhẹ TNHS Tình tiết giảm nhẹ TNHS là những trường hợp được quy định trong BLHS , trong các văn bản liên quan hay trong thực tiễn xét xử vụ án hình sự, 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các tình tiết này có ý nghĩa làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội cũng như khả năng cải tạo của người phạm tội nên có giá trị làm giảm nhẹ TNHS mà người phạm tội đáng lẽ ra phải chịu nếu không thuộc các trường hợp đó. Xét về vế thứ hai của các tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc về nhân thân người phạm tội, “Nhân thân người phạm tội” là khái niệm được đề cập khá nhiều trong khoa học luật hình sự.
Ngoài tư cách là một trong những căn cứ để quyết định hình phạt, nhân thân người phạm tội còn là một trong những căn cứ khi phân loại tình tiết giảm nhẹ TNHS của người phạm tội. Nhân thân là một phạm trù xã hội học phức tạp được nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực. Theo Các Mác, thực chất của nhân thân "không phải ở bộ râu, ở dòng máu, ở các thể chất trừu tượng của nó, mà là ở tính chất xã hội của nó". Cácmac cũng cho rằng: "bản chất của con người không phải cái gì trừu tượng, sẵn có trong từng cá nhân riêng biệt.
Bản chất của con người thực tế là tổng hoà các mối quan hệ xã hội" [5, tr. Như vậy, hiểu theo quan điểm chung của xã hội học Mác Lênin về nhân thân con người thì "nhân thân" đó là bản chất xã hội của con người được thể hiện thông qua vị trí của con người trong hệ thống quan hệ xã hội. Nhân thân là một phạm trù mang tính xã hội - lịch sử. Mỗi cá nhân cụ thể sẽ có một nhân thân tương ứng hoàn toàn khác biệt.
Mỗi con người - một nhân thân, mặc dù các nhân thân có ý nghĩa và giá trị khác nhau, một số thì tích cực thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội, số khác lại cản trở nó. Khi nói đến nhân thân con người là chúng ta muốn nói đến sự tổng hợp các đặc điểm, dấu hiệu thể hiện bản chất của con người tham gia vào các mối quan hệ xã hội. Đó là các đặc điểm, dấu hiệu sinh học, nhân khẩu học, các đặc điểm xã hội học, đạo đức - tâm lý. Các tiếp cận Mác xít với vấn đề nhân thân đòi hỏi phải có sự thống nhất biện chứng về mặt xã hội với các yếu tố khác trong nội dung của khái niệm này.
Cần phải quan tâm đến các giá trị xã hội và 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các phương diện của hiện thực xã hội, những người xung quanh, gia đình bố, mẹ, vợ chồng, con cái, anh em, tài sản, lao động, các nghĩa vụ công dân vv. Nội dung của các mối quan hệ sâu sắc và ổn định, vì xuất phát từ đó mà hình thành nên quan điểm, lý tưởng, lập trường, quan niệm đạo đức của con người. Cách xử sự của con người trong xã hội - mà nhân thân thể hiện ra bên ngoài cũng gắn liền với lĩnh vực trí tuệ, cảm xúc và ý chí của nhân thân. [Xem: 51, 40] Như vậy Nhân thân của con người đó là tổng hợp những đặc điểm, dấu hiệu, mối quan hệ xã hội, của mỗi con người cụ thể, bao gồm : các đặc điểm, dấu hiệu về xã hội, nhân khẩu học như giới tính, tuổi, trình độ văn hoá, địa vị xã hội, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình, nơi sinh sống, hoàn cảnh kinh tế; các đặc điểm, dấu hiệu về tâm lý như quan điểm, nhu cầu, sở thích, thói quen lý trí, ý chí, xúc cảm, tình cảm.và các đặc điểm, dấu hiệu, mối quan hệ xã hội khác.
Đó là khái niệm Nhân thân của con người nói chung, vậy Nhân thân người phạm tội là gì? Có thể hiểu Nhân thân người phạm tội là “Tổng hợp những đặc điểm riêng về xã hội hoặc có ý nghĩa về mặt xã hội của người phạm tội” [19, tr183- 184]. Những đặc điểm nhân thân đó có thể là : tuổi, giới tính, nghề nghiệp, có án tích, trình độ văn hóa, hệ thống thái độ…Nói một cách dễ hiểu hơn, “Nhân thân người phạm tội là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt nói lên tính chất của một con người” [44, tr. Nhân thân người phạm tội là một khái niệm rộng, có nội hàm lớn, thể hiện bản chất xã hội của con người, phản ánh một tổng thể các dấu hiệu, các đặc tính, các mối quan hệ đặc trưng cho con người.