Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo tổng kết của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến năm 2009, đã có 20 trên 22 Bộ, cơ quan ngang Bộ và 57 trên 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng cổng thông tin điện tử trên mạng Internet. Làn sóng tin học hóa hành chính nhà nước đang diễn ra mạnh mẽ, mở đường cho tiến trình hội nhập quốc tế sau khi Việt Nam ký kết Hiệp định khung ASEAN điện tử từ năm 2000 và triển khai Chỉ thị số 58-CT/TW của Bộ Chính trị. Tuy nhiên, việc xây dựng Chính phủ điện tử không đơn thuần là quá trình trang bị máy móc công nghệ, mà là sự chuyển đổi căn bản từ nền hành chính quản lý sang nền hành chính phục vụ công dân và doanh nghiệp.

Vấn đề nghiên cứu then chốt của đề tài tập trung vào việc đánh giá tính thích ứng của hệ thống thiết chế quản lý đối với việc thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin và hình thành Chính phủ điện tử tại Bộ Khoa học và Công nghệ. Thực tế cho thấy, mặc dù tỷ lệ máy tính trang bị cho cán bộ tại Bộ đạt khoảng 70% đến 80% và 80% đến 90% đơn vị trực thuộc đã thiết lập mạng nội bộ LAN, nhưng hiệu quả khai thác và chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến vẫn còn ở mức sơ khai.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là làm rõ mức độ tương thích giữa cơ chế chính sách, cơ cấu tổ chức với yêu cầu đổi mới công nghệ; phân tích các điểm nghẽn quản lý và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ. Phạm vi không gian được thực hiện tại Bộ Khoa học và Công nghệ cùng một số Bộ, ngành tiêu biểu như Bộ Công Thương, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Phạm vi thời gian bao quát tiến trình phát triển công nghệ thông tin từ năm 1996 đến năm 2009 qua các giai đoạn Chương trình quốc gia về công nghệ thông tin, Đề án 112 và Nghị định số 64/2007/NĐ-CP. Công trình mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, hướng tới mục tiêu tối ưu hóa 100% quy trình tác nghiệp nội bộ, nâng tỷ lệ lưu chuyển văn bản điện tử lên trên 50% và tạo nền tảng vững chắc để hình thành Bộ Khoa học và Công nghệ điện tử.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề dựa trên nền tảng lý thuyết quản lý học hiện đại và lý thuyết thiết chế xã hội của các học giả tiêu biểu như J. Fichter và Anthony Giddens. Theo quan điểm xã hội học, thiết chế là một phần của văn hóa bao gồm các chuẩn mực và giá trị được khuôn mẫu hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu căn bản của cộng đồng. Trong phân hệ quản lý nhà nước, thiết chế quản lý đại diện cho phương thức tổ chức và nguyên tắc vận hành của chủ thể quản lý, bao gồm ba trụ cột cơ bản: chính sách, chiến lược và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.

Kết hợp với định nghĩa của Ngân hàng Thế giới và các chuẩn mực quốc tế, nghiên cứu xác lập mô hình Chính phủ điện tử bao gồm việc tối ưu hóa liên tục các mối quan hệ tác nghiệp: giữa các cơ quan chính phủ với nhau (G2G), giữa chính phủ với doanh nghiệp (G2B), giữa chính phủ với công dân (G2C) và giữa chính phủ với đội ngũ công chức (G2E). Bốn khái niệm nền tảng được chuẩn hóa gồm: quản lý hành chính nhà nước, thiết chế quản lý, hệ thống thông tin quản lý và dịch vụ công trực tuyến theo thang đo 4 mức độ phát triển tại Việt Nam. Khung phân tích tập trung đánh giá mối quan hệ tương tác hai chiều giữa sự hoàn thiện của thể chế pháp lý và năng lực vận hành công nghệ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế khoa học với nguồn dữ liệu kết hợp giữa sơ cấp và thứ cấp. Về dữ liệu sơ cấp, tác giả tiến hành điều tra khảo sát thực địa với cỡ mẫu gồm 29 đơn vị trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, bao gồm đầy đủ khối quản lý nhà nước (các Vụ, Cục, Thanh tra Bộ, Văn phòng Bộ) và khối các đơn vị sự nghiệp công lập. Phương pháp chọn mẫu chủ đích kết hợp phân tầng được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện toàn diện cho các môi trường tác nghiệp đặc thù của ngành khoa học và công nghệ.

Về dữ liệu thứ cấp, nghiên cứu tổng hợp báo cáo chính thức từ 15 Bộ, cơ quan ngang Bộ và 37 Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố theo Công văn số 465/BTTTT-ƯDCNTT năm 2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông, cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành từ năm 1993 đến năm 2009. Tác giả sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và phương pháp so sánh đối chuẩn quốc tế (đối chiếu kinh nghiệm của Hàn Quốc với 4 kế hoạch tổng thể từ năm 1986 và Singapore với sáng kiến hạ tầng dịch vụ công năm 1999). Việc lựa chọn các phương pháp phân tích này giúp luận văn chứng minh vững chắc tính thích ứng của thiết chế quản lý dưới góc nhìn định lượng và định tính rõ ràng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Hạ tầng công nghệ tại Bộ Khoa học và Công nghệ đã được đầu tư nâng cấp đáng kể với tỷ lệ cán bộ có máy tính phục vụ công việc đạt khoảng 75% và 100% các đơn vị trực thuộc thiết lập mạng cục bộ LAN. Tuy nhiên, mức độ kết nối mạng diện rộng WAN giữa cơ quan Bộ với các đơn vị trực thuộc còn rất hạn chế, đạt tỷ lệ dưới 25%, dẫn đến tình trạng các luồng dữ liệu bị phân mảnh và cô lập cục bộ.

Thứ hai, về thói quen tác nghiệp và ứng dụng điều hành: Tỷ lệ công chức được cấp hòm thư điện tử công vụ đạt khoảng 80%, nhưng tỷ lệ thường xuyên sử dụng thư điện tử để xử lý nghiệp vụ chỉ đạt mức 60%, thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ 100% cán bộ sử dụng email thường xuyên tại Bộ Công Thương. Phần mềm quản lý văn bản và điều hành mới chỉ phục vụ công tác văn thư lưu trữ công văn đi và đến đơn lẻ, chưa hình thành môi trường làm việc điện tử liên thông.

Thứ ba, về dịch vụ công trực tuyến: Mặc dù Cổng thông tin điện tử của Bộ Khoa học và Công nghệ được Bộ Thông tin và Truyền thông xếp hạng 1 về mức độ cung cấp thông tin vào tháng 01/2009, nhưng mức độ cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến lại rất thấp. Toàn bộ 100% dịch vụ hành chính công của Bộ mới dừng lại ở mức độ 1 và mức độ 2. Bộ chưa có bất kỳ dịch vụ công trực tuyến nào đạt mức độ 3, trong khi các cơ quan như Bộ Công Thương đã triển khai thành công dịch vụ Quản lý xuất xứ điện tử và Cấp giấy phép nhập khẩu tự động ở mức độ 3.

Thứ tư, về tổ chức bộ máy và nhân lực: Bộ chưa xây dựng được Khung kiến trúc tổng thể về Chính phủ điện tử và Kế hoạch tổng thể ứng dụng công nghệ thông tin giai đoạn 2006 - 2010. Đội ngũ cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin tại 29 đơn vị trực thuộc chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn khoảng 1% đến 2% tổng biên chế, phần lớn làm việc theo chế độ kiêm nhiệm và thiếu vai trò chỉ đạo của Giám đốc thông tin (CIO).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các tồn tại nêu trên không xuất phát từ năng lực công nghệ thuần túy mà nằm ở sự thiếu thích ứng của các thiết chế quản lý nội bộ. Thói quen xử lý hồ sơ giấy tờ truyền thống vẫn chiếm ưu thế do thiếu các quy định pháp lý mang tính bắt buộc và chế tài cụ thể. Về mặt biểu diễn dữ liệu, hiện trạng này có thể được minh họa trực quan qua biểu đồ cột kép so sánh giữa tỷ lệ trang bị thiết bị phần cứng (đạt trên 75%) đối lập với tỷ lệ cán bộ sử dụng phần mềm tác nghiệp chuyên sâu (chỉ đạt khoảng 35% đến 40%).

So sánh với mô hình thành công của Bộ Công Thương cho thấy sự khác biệt quyết định nằm ở hệ thống thể chế. Bộ Công Thương đã chủ động ban hành hàng loạt văn bản quy phạm nội bộ như Quyết định số 1717/QĐ-BTM ngày 20/6/2005 về quy chế Website, Quyết định số 0292/2005/QĐ-BTM ngày 25/2/2005 về quy trình xử lý văn bản điện tử và Quyết định số 25/2006/QĐ-BTM ngày 25/7/2006 về sử dụng chữ ký số. Ngược lại, cơ chế quản lý đầu tư công nghệ thông tin tại Bộ Khoa học và Công nghệ vẫn bị ràng buộc bởi các quy định quản lý dự án xây dựng cơ bản, thiếu các hạng mục chi ngân sách thường xuyên cho bảo trì, nâng cấp phần mềm và thuê đường truyền mạng. Phát hiện này khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết: thiết chế quản lý là động lực trung tâm điều tiết hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong khu vực công.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tăng cường tính thích ứng của thiết chế quản lý, thúc đẩy hình thành Bộ Khoa học và Công nghệ điện tử:

Thứ nhất, hoàn thiện môi trường thể chế và khung pháp lý nội bộ: Khẩn trương cụ thể hóa các văn bản quản lý nhà nước như Nghị định số 64/2007/NĐ-CP, Quyết định số 43/2008/QĐ-TTg và Quyết định số 48/2009/QĐ-TTg thành các quy chế nội bộ của Bộ Khoa học và Công nghệ. Ban hành quy định bắt buộc sử dụng chữ ký điện tử, quy chế gửi nhận văn bản điện tử thay thế dần văn bản giấy, và quy chuẩn chia sẻ dữ liệu liên cơ quan. Mục tiêu đạt trên 50% văn bản trao đổi trên môi trường mạng vào năm 2010. Chủ thể thực hiện: Văn phòng Bộ chủ trì, phối hợp cùng Vụ Pháp chế.

Thứ hai, thiết lập Khung kiến trúc tổng thể và chuẩn hóa quy trình: Xây dựng và ban hành Kiến trúc Chính phủ điện tử tổng thể của Bộ Khoa học và Công nghệ trước quý IV năm 2010. Rà soát, chuẩn hóa các quy trình hành chính theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 trước khi lập trình hóa hệ thống. Thiết lập cơ sở dữ liệu quốc gia về nhiệm vụ khoa học công nghệ, bảo đảm kết nối thông suốt 29 đơn vị trực thuộc với mạng diện rộng của 63 Sở Khoa học và Công nghệ địa phương. Chủ thể thực hiện: Trung tâm Tin học chủ trì, phối hợp với các Vụ chức năng.

Thứ ba, kiện toàn cơ cấu tổ chức và phát triển nguồn nhân lực: Thành lập Cục Công nghệ thông tin trực thuộc Bộ trên cơ sở nâng cấp Trung tâm Tin học nhằm đảm nhiệm chức năng quản lý nhà nước chuyên trách; quy định rõ thẩm quyền của Thứ trưởng phụ trách công nghệ thông tin đảm nhận vai trò Giám đốc thông tin (CIO). Bắt buộc 100% cán bộ, công chức tham gia các khóa chuẩn hóa kỹ năng số và bổ sung tối thiểu 2 đến 3 biên chế chuyên trách công nghệ thông tin cho mỗi đơn vị trực thuộc trong giai đoạn 2009 - 2011. Chủ thể thực hiện: Vụ Tổ chức cán bộ.

Thứ tư, đổi mới cơ chế tài chính và phương thức điều hành dự án: Đề xuất Chính phủ và Bộ Tài chính tách bạch mục lục ngân sách riêng cho công nghệ thông tin; dành tối thiểu 15% đến 20% kinh phí công nghệ thông tin hàng năm cho công tác duy tu, bảo dưỡng, thuê dịch vụ hạ tầng và an toàn an ninh mạng. Chủ thể thực hiện: Vụ Kế hoạch - Tài chính.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng chính trong công tác quản lý và học thuật:

Thứ nhất, lãnh đạo các cơ quan quản lý nhà nước cấp Bộ, ngành và địa phương: Cung cấp phương pháp luận toàn diện để đánh giá mức độ thích ứng của thiết chế quản lý, giúp lãnh đạo đưa ra các quyết định chuẩn hóa quy chế làm việc, loại bỏ rào cản hành chính và phê duyệt các dự án đầu tư công nghệ thông tin đúng trọng tâm, tránh lãng phí ngân sách nhà nước.

Thứ hai, cán bộ hoạch định chính sách và chuyên viên chuyên trách công nghệ thông tin: Tài liệu là cẩm nang hữu ích về cách thức xây dựng Khung kiến trúc tổng thể Chính phủ điện tử, quy trình vận hành cổng thông tin điện tử và các bước nâng cấp dịch vụ công trực tuyến từ mức độ 1, mức độ 2 lên mức độ 3 và mức độ 4 phục vụ người dân và cộng đồng doanh nghiệp.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Khoa học quản lý, Quản lý công, Chính sách công: Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp khảo sát thực địa tại 29 cơ quan hành chính sự nghiệp, cách áp dụng lý thuyết thiết chế xã hội vào giải quyết bài toán hiện đại hóa nền hành chính nhà nước.

Thứ tư, các chuyên gia tư vấn chuyển đổi số và doanh nghiệp công nghệ: Giúp các đối tác công nghệ hiểu sâu sắc các đặc thù thể chế, cơ chế giải ngân ngân sách và nhu cầu tác nghiệp thực tế của khối cơ quan công quyền, từ đó thiết kế các giải pháp phần mềm dùng chung và hạ tầng an ninh mạng tương thích tối đa với tiêu chuẩn quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

Thiết chế quản lý có vai trò quyết định như thế nào đối với sự thành công của Chính phủ điện tử? Thiết chế quản lý giữ vai trò định hướng, thiết lập hành lang pháp lý và chuẩn hóa các quy tắc vận hành trong cơ quan nhà nước. Nếu thiết chế không đổi mới, việc đầu tư thiết bị phần cứng chỉ tạo ra thay đổi hình thức. Điển hình tại Bộ Khoa học và Công nghệ, tỷ lệ trang bị máy tính đạt khoảng 80% nhưng hiệu quả tác nghiệp chỉ thực sự tăng khi ban hành các quy định bắt buộc sử dụng hệ thống thư điện tử và quản lý văn bản qua mạng.

Tại sao Cổng thông tin điện tử Bộ Khoa học và Công nghệ đạt hạng 1 về cung cấp thông tin nhưng dịch vụ công còn ở mức thấp? Theo bảng xếp hạng của Bộ Thông tin và Truyền thông công bố ngày 20/01/2009, Bộ Khoa học và Công nghệ đứng vị trí số 1 về cung cấp thông tin tuyên truyền, chính sách. Tuy nhiên, do chưa tích hợp quy trình xử lý hồ sơ một cửa điện tử và cơ chế tiếp nhận dữ liệu trực tuyến giữa 29 đơn vị trực thuộc, 100% dịch vụ hành chính công của Bộ khi đó mới dừng ở mức độ 1 và mức độ 2, chưa thể tiếp nhận và xử lý hồ sơ qua mạng ở mức độ 3.

Khung kiến trúc tổng thể Chính phủ điện tử bao gồm những cấu phần cốt lõi nào? Khung kiến trúc tổng thể kết hợp hài hòa giữa chiến lược cải cách hành chính và kiến trúc công nghệ thông tin quốc gia. Các cấu phần cốt lõi gồm: hạ tầng kỹ thuật an toàn mạng, các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu dùng chung, chuẩn kết nối mở liên cơ quan và cổng dịch vụ công tích hợp. Kinh nghiệm từ Singapore và Hàn Quốc chứng minh đây là công cụ thiết chế quan trọng nhất để xóa bỏ tình trạng cát cứ thông tin.

Những điểm nghẽn tài chính lớn nhất đối với các dự án công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước giai đoạn 2001 - 2009 là gì? Điểm nghẽn lớn nhất là cơ chế tài chính quản lý dự án công nghệ thông tin bị đồng nhất với quản lý dự án xây dựng cơ bản. Việc thiếu danh mục chi ngân sách cho duy trì đường truyền mạng, bảo trì phần mềm và thiếu định mức kinh tế kỹ thuật đã khiến hơn 50% dự án tin học hóa bị chậm tiến độ và giảm hiệu quả khai thác thực tế.

Giải pháp nào giúp nâng cao tỷ lệ cán bộ, công chức thường xuyên sử dụng thư điện tử và phần mềm điều hành? Giải pháp then chốt là ban hành quy chế bắt buộc sử dụng chữ ký số, giao chỉ tiêu xử lý văn bản điện tử và gắn việc ứng dụng công nghệ thông tin vào tiêu chí thi đua khen thưởng hàng năm. Bài học từ Bộ Công Thương cho thấy việc ban hành quy chế tiếp nhận và xử lý hồ sơ trên mạng đã giúp tỷ lệ cán bộ thường xuyên sử dụng email đạt mức tuyệt đối 100%.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Khoa học quản lý của tác giả Phan Cẩm Tú đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu với 5 đóng góp học thuật và thực tiễn cốt lõi:

  • Khẳng định mối quan hệ nhân quả mang tính quyết định của thiết chế quản lý đối với hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước.
  • Đánh giá toàn diện bức tranh hiện trạng và các nút thắt công nghệ thông tin tại Bộ Khoa học và Công nghệ qua khảo sát thực chứng 29 đơn vị trực thuộc.
  • Phân tích sâu sắc bài học kinh nghiệm quốc tế từ Hàn Quốc, Singapore và thực tiễn triển khai thành công tại Bộ Công Thương, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Hệ thống hóa 4 nhóm giải pháp đột phá về thể chế, kiến trúc tổng thể, cơ cấu nhân lực và cơ chế tài chính cho giai đoạn 2009 - 2011.
  • Đặt nền tảng phương pháp luận vững chắc cho lộ trình xây dựng mô hình Bộ Khoa học và Công nghệ điện tử gắn liền với chiến lược cải cách hành chính quốc gia.

Công trình là tài liệu khoa học nền tảng, cung cấp góc nhìn sâu sắc về mối quan hệ giữa thể chế quản lý và công nghệ. Các cơ quan quản lý nhà nước, nhà nghiên cứu và học viên hãy tham khảo toàn văn luận văn để ứng dụng hiệu quả những giải pháp thiết chế vào thực tiễn chuyển đổi số hành chính công!