Chương 1 giới thiệu về tổng quan các nghiên cứu trong nước và nước ngoài về minh bạch thông tin trên BCTC và các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin trên BCTC. Từ đó đưa ra khe hổng nghiên cứu, cho thấy được tính mới của bài nghiên cứu.1 Nghiên cứu về minh bạch thông tin trên BCTC Đã có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về minh bạch thông tin tài chính với những đóng góp quan trọng góp phần xem xét đến tính minh bạch của doanh nghiệp.1 Sự minh bạch thông tin trên BCTC Năm 1994, nghiên cứu của Carolyn Streuly “The primary objective of financial reporting: How are you doing?” (Tạp chí CPA Ohio số 53.6) thực hiện thông qua ba lần tổng hợp thư khảo sát, cuộc điều tra, nhận được kết quả từ 508 từ 1.300 chuyên gia phân tích tài chính (CFAs) ở Mỹ, kết quả nghiên cứu cho thấy thông tin BCTC hữu ích và thuyết minh BCTC rõ ràng cung cấp thông tin để các nhà đầu tư, chủ nợ, người dùng khác cho các quyết định đầu tư hợp lý. Theo nghiên cứu của Ball et al. (1968) cho thấy bằng chứng về mối quan hệ giữa thông tin lợi nhuận được công bố trên BCTC với giá cổ phiếu, khi có thông tin mới về một sự gia tăng bất thường của lợi nhuận công ty sẽ làm tăng giá trị tương ứng của doanh nghiệp, giá cổ phần sẽ phản ánh đầy đủ các thông tin hiện có trong thị trường hiệu quả và sẽ gia tăng giá cổ phần ngay khi thông tin trên BCTC được công bố và sẽ chấm dứt sau ngày công bố.
Theo nghiên cứu về mối quan hệ giữa thông tin BCTC và giá cổ phiếu của Dimitropoulos et al. (2009) “The value relevance of financial statements and their impact on stock prices” (tạp chí Managerial Auditing 24. 3, P248-265), tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy OLS để kiểm định cho các giả thuyết đưa ra và thu thập dữ liệu của 101 CTNY trên TTCK Athens từ năm 1995 – 2004. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ suất lợi nhuận và doanh thu trên tổng tài sản có ảnh hưởng tích cực đến thu nhập cổ phiếu, ngược lại tỷ lệ vốn lưu động trên tổng tài sản và tỷ suất lợi nhuận có tác động tiêu cực đến thu nhập cổ phiếu.
Năm 2006, nhóm tác giả Mensah và cộng sự đã đưa ra mô hình các mức độ minh bạch thông tin, nghiên cứu này chính thức hóa minh bạch là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá các báo cáo tài chính theo quan điểm của người sử dụng bên ngoài. Cũng trong năm 2006, nghiên cứu của Zarb, Bert. đề cập đến sự khác biệt trong cách nhìn nhận của nhà đầu tư và người lập báo cáo về tính minh bạch của thông tin báo cáo tài chính v.v… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Năm 2010, có nghiên cứu của Thomas J. xem xét quan điểm soạn lập BCTC, kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhà quản lý doanh nghiệp có mong muốn thiết lập BCTC dựa trên các chuẩn mực kế toán, trong khi các nhà đầu tư và chủ nợ lại nghiêng về quan điểm nên thiết lập BCTC dựa trên luật lệ.
Theo nghiên cứu của Zarzeski (1996) cho rằng văn hóa và sức mạnh của thị trường tác động đến mức độ CBTT thông qua các nhân tố: Đòn bẩy tài chính, quy mô công ty và doanh thu xuất khẩu. Các thuộc tính của minh bạch thông tin được đưa ra bởi nghiên cứu của Vishwanath và Kaufmann (2001) bao gồm: tiếp cận, tính toàn diện, tính liên quan, chất lượng và sự đáng tin cậy. Tác giả Phạm Đức Tân (2008) cũng thông qua khảo sát BCTC và báo cáo thường niên của các công ty niêm yết trên TTCK HoSE trong 3 năm 2006, 2007, 2008 kết hợp so sánh đối chiếu với hệ thống pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến việc công bố thông tin tài chính để đo lường sự minh bạch thông tin tài chính, kết quả nghiên cứu cho thấy hệ thống công nghệ thông tin yếu kém, các yếu tố phát triển chưa đồng bộ gây ra sự chậm trễ trong việc công bố thông tin, việc các công ty niêm yết che dấu thông tin vẫn phổ biến. Tác giả Nguyễn Thị Hồng Thúy (2008) với nghiên cứu về hoàn thiện minh bạch hóa thông tin tài chính của các CTNY trên TTCK Việt Nam, 100 phiếu điều tra đã được thu về từ 150 phiếu điều tra từ các NĐT ở các sàn giao dịch chứng khoán đo lường minh bạch thông tin bằng cách lập bảng câu hỏi dành cho NĐT khảo sát về các chỉ tiêu mà nhà đầu tư quan tâm khi phân tích báo cáo tài chính, kết hợp với khảo sát 4 công ty thông qua các chỉ tiêu: chỉ số lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh so với doanh thu thuần, chỉ số lợi nhuận trên doanh thu, chỉ số sinh lợi trên vốn cổ phần, lãi cơ bản trên cổ phiếu.
Kết luận của khảo sát cho thấy minh bạch hóa thông tin tài chính các CTNY trên TTCK Việt Nam tuy vẫn còn hạn chế: thông tin chưa được công bố đầy đủ, kịp thời, đều đặn và bị rò rỉ trước CBTT, nhưng cũng đã có những tích cực là có kênh thông tin đáng tin cậy từ các tổ chức phân tích tài chính chuyên nghiệp. Trên quan điểm người sử dụng thông tin, các tác giả Blanchet (2002), Prickett (2002) và Kulzick (2004) cho rằng sự minh bạch thông tin bao gồm: sự chính xác, sự nhất quán, sự thích hợp, sự đầy đủ, sự rõ ràng, sự kịp thời và sự thuận tiện. Kế thừa nghiên cứu này, nghiên cứu khảo sát thực trạng sự minh bạch TTTC công bố của các CTNY trên TTCK Việt Nam của tác giả Nguyễn Đình Hùng (2010) đưa ra các biến đại diện để đo lường sự minh bạch là: sự kịp thời, sự thuận tiện, sự chính xác, sự đầy đủ và sự nhất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Kết quả thống kê của nghiên cứu cho thấy số ngày trung bình công bố thông tin lớn hơn so với số ngày tối đa cho phép theo Thông tư số 38/2007/TT-HTC năm 2017 là 19 ngày và năm 2018 là 15 ngày.
Việc chậm trễ này làm giảm tính kịp thời của thông tin, giảm tính minh bạch thông tin tài chính. Dù năm 2007 và 2008 là năm thực hiện chuẩn mực mới về BCTC hợp nhất và thông tin các bên liên quan, dù sự minh bạch thông tin còn kém nhưng ghi nhận sự chuyển biến tích cực qua các năm. Sự thuận tiện, mức độ chính xác trong số liệu trên các BCTC trước kiểm toán rất thấp, tuy nhiên về hình thức các CTNY đã công bố BCTC số lượng đầy đủ và nhất quán, điểm thiếu minh bạch là do các CTNY không cung cấp được số liệu, cơ sở để kiểm toán xác minh các số liệu do các CTNY trình bày trên BCTC, điều này dẫn đến ý kiến loại trừ của kiểm toán. Từ kết quả khảo sát tác giả tiến hành xây dựng mô hình và đưa ra kiến nghị, giải pháp về hệ thống kiểm soát sự minh bạch thông tin tài chính của các CTNY trên TTCK Việt Nam.
Nghiên cứu tình huống cụ thể tại Úc với bài báo “Key Issues Accounting Information Quality Management: Australian Case Studies” kế thừa kết quả nghiên cứu của Xu và cộng sự (2003) khẳng định lại lần nữa các yếu tố bên trong gồm yếu tố con người và hệ thống (sự tương tác giữa con người với hệ thống máy tính; giáo dục và nâng cao trình độ nhân viên; nâng cấp hệ thống), các vấn đề liên quan đến tổ chức (cơ cấu tổ chức; văn hóa tổ chức; các chính sách và chuẩn mực); lẫn bên ngoài đơn vị gồm kinh tế toàn cầu; mối quan hệ giữa các tổ chức và giữa các quốc gia; sự phát triển công nghệ; thay đổi các quy định pháp lý ảnh hưởng đến chất lượng của thông tin kế toán. Năm 2006, tác giả Nguyễn Thị Hà đã phân tích nguyên tắc “công khai và minh bạch” theo yêu cầu của OECD. Công trình khoa học cấp bộ của tác giả Nguyễn Thị Hà cũng đề cập đến tính minh bạch thông tin như “Tính minh bạch trong BCTC của các doanh nghiệp nhỏ và vừa” (2011). Năm 2009, nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Tâm đã phân tích các nguyên nhân làm cho TTTC chưa thực sự minh bạch.
Cùng năm, tác giả Lâm Thị Hồng Hoa đã đưa ra 7 nguyên nhân chính dẫn đến sự thiếu minh bạch về thông tin bao gồm: (1) cách thức điều hành nền kinh tế, (2) quan niệm giữ bí mật trong kinh doanh bị lạm dụng, (3) năng lực quản trị còn yếu kém, tâm lý ngại thay đổi, (4) cách thức soạn thảo và trình bày văn bản đã có dấu ấn của lợi ích cục bộ của ngành, địa phương, (5) chưa có chế tài cho việc xử phạt CBTT cho NĐT thiếu minh bạch, (6) chưa có hệ thống chỉ tiêu để người sử dụng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 thông tin kiểm chứng thông tin đó minh bạch hay chưa, (7) hoạt động kiểm toán chưa thực sự góp phần cho thông tin được minh bạch. Năm 2012, luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thúy Anh cũng đề cập đến sự minh bạch thông tin trên TTCK. Cũng trong năm này, tổ chức tài chính quốc tế (IFC) cũng đã nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến minh bạch thông tin và quản trị công ty của các CTNY tại TTCK Việt Nam. Năm 2016, theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan Anh và các cộng sự “Minh bạch thông tin trước thềm hội nhập AEC” sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, triển khai từ nguồn dữ liệu thứ cấp là thông tin tài chính của 240 công ty niêm yết chọn ngẫu nhiên trên sàn HOSE năm 2014 được thu thập để xử lý và phân tích, sử dụng điểm số ARA năm 2014 của Công ty Dragon Capital đánh giá.
Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ minh bạch thông tin giữa các ngành không chênh lệch nhiều. Nhóm công ty thuộc ngành nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng 18% và đạt điểm số ARA là 53. Nhóm nghiên cứu cũng đưa ra một số nguyên nhân các công ty chưa minh bạch thông tin như: chọn giữ lãi để công bố vào các đợt bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng, điều chỉnh lợi nhuận và hạch toán vào các giai đoạn tùy theo mục đích của từng doanh nghiệp. Từ năm 2012 cho đến nay, Sở GDCK Hà Nội đã triển khai chương trình đánh giá Công bố thông tin và minh bạch hàng năm, liên tục nghiên cứu cập nhật các thay đổi trong văn bản pháp quy mới và các thông lệ quốc tế mới, đặc biệt là bộ nguyên tắc về quản trị công ty năm 2015 của OECD.
Năm 2018, HNX áp dụng chương trình này cho các doanh nghiệp đại chúng quy mô lớn trên thị trường UPCoM.