PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Cộng hòa Liên bang Đức là quốc gia đông dân nhất và có tiềm lực kinh tế mạnh nhất trong khối các nước thuộc Liên minh Châu Âu1 (EU). Đức cũng là dân tộc đã “sản sinh” cho nhân loại những nhân vật đặc biệt2, đồng thời, cũng là dân tộc có nhiều thăng trầm trong lịch sử, nhất là lịch sử hai cuộc Thế chiến, và sau nhiều biến cố đã vực dậy để trở thành một trong những cường quốc như ngày nay3. Có rất nhiều nguyên nhân để lý giải cho điều này, trong đó không thể không kể đến tính cách văn hóa của người Đức đã góp phần hình thành dân tộc Đức hiện tại.
Việt Nam được xác định là đối tác quan trọng trong hợp tác phát triển của Đức tại Đông Nam Á4. Vì thế, trong khối Liên minh Châu Âu đầu tư vào Việt Nam, Đức là quốc gia đầu tư nhiều nhất5 ở các lĩnh vực như kinh tế, y tế, môi trường, giáo dục và văn hóa. Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Đức Angela Merkel năm 2011, nhiều thỏa thuận đã được ký kết, trong đó có bản “Tuyên bố chung từ Hà Nội” chính thức thiết lập quan hệ đối tác chiến lược giữa Đức và Việt Nam, bao gồm cả những thỏa thuận nhằm “tăng cường kinh tế, thương mại và đầu tư, hợp tác phát triển, khoa học và văn hóa”6. Từ sau Tuyên bố chung này, nhiều chương trình và dự án hợp tác giữa hai nước đã được ký kết trong nhiều lĩnh vực.
Những hợp tác nói trên tạo điều kiện cho sự gặp gỡ, tiếp xúc giữa người Việt và người Đức và sự hiểu biết tính cách lẫn nhau sẽ là tiền đề cho hợp tác thành công. Hiện ở Đức có gần 160.000 người Việt Nam đang sinh sống, làm việc và học tập (Schaland, 2016, tr. Ngược lại, ở Việt Nam, hơn 70.0007 người đã từng học tập, 1 “Tổng sản phẩn quốc nội GDP đạt 2,5 ngàn tỉ Euro, cao hơn GDP của Pháp và Anh khoảng 25%”. 51) 2 Ví dụ như thiên tài Albert Einsetein, triết gia Immanuel Kant, nhà độc tài Adolf Hitler… 3 Theo Quỹ tiền tệ thế giới IWF thì GDP của Đức năm 2011 là 3,63 tỉ USD, đứng hàng thứ 4 thế giới sau Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản 4 Phát biểu của ngài Đại sứ Claus Wunderlich trong chuyến viếng thăm của Thủ tướng Angela Merkel.
Nguồn: Đại sứ quán Nước CHXHCN Việt Nam tại CHLB Đức. Truy xuất từ http://www.org/viet- nam-va-duc-tang-cuong-hop-tac-phat-trien/ 5 Truy xuất từ http://www.de/contentblob/4374280/Daten/4866373/141118_Interview_Botschafterin_Jutta_Fras ch_mit_Zeitschrift_Deutschlandde.pdf 6 http://baodientu.vn/Uploaded_VGP/thukybientap/20111011/Tuyenbochung.htm 7 Truy xuất từ https://vietnam.de/vn-vi/themen/kultur 2 làm việc ở Đức và có thể nói được tiếng Đức. Vì vậy, việc tìm hiểu tính cách người Đức một cách hệ thống dựa vào những luận cứ khoa học là rất cần thiết nhằm mang lại những nhận định xác thực và có cơ sở giúp tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai dân tộc. Nghiên cứu liên quan đến người Đức và dân tộc Đức, một dân tộc khá đặc biệt như đã nêu, là điều cần thiết, bởi như Roth R.
nhận định: “không có một dân tộc nào trên thế giới đã và đang là tâm điểm cho những đánh giá trái chiều với nhau như dân tộc Đức” (Roth R. Vì sao họ là tâm điểm của những đánh giá? Họ được đánh giá dựa theo những tiêu chí nào? Các đánh giá trái chiều với nhau ra sao? Những lý do và những câu hỏi trên đây đã thúc đẩy chúng tôi chọn đề tài Tính cách văn hóa Đức làm vấn đề nghiên cứu. Dù đã có một số bài viết của tác giả người Việt về tính cách người Đức, nhưng phần lớn đều ở dạng liệt kê hoặc tóm lược dựa vào kinh nghiệm cá nhân nên chưa mang tính hệ thống. Nghiên cứu tính cách người Đức một cách hệ thống từ góc nhìn văn hóa học đem lại ý nghĩa nhất định về mặt khoa học.
Luận án đóng góp vào mảng nghiên cứu sâu trong văn hóa học, đó là nghiên cứu tính cách của một cộng đồng, một dân tộc. Thực hiện luận án Tính cách văn hóa Đức, chúng tôi dựa vào cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu khoa học phù hợp với mong muốn kết quả nghiên cứu sẽ đem lại cái nhìn hệ thống, toàn diện hơn tính cách văn hóa Đức. Là người làm công tác giảng dạy tiếng Đức, gắn bó với Đức qua những đợt học tập, nghiên cứu và tiếp xúc thường xuyên với người Đức trong công việc, chúng tôi luôn tự đặt câu hỏi làm thế nào để hiểu người Đức tốt hơn, cơ sở nào định hình cách nghĩ và cách sống của họ. Thực hiện luận án chính là cơ hội giúp bản thân có thêm kiến thức và kỹ năng nghiên cứu khoa học về văn hóa Đức và tính cách người Đức nhằm phục vụ có hiệu quả cho công việc giảng dạy ngôn ngữ Đức cũng như truyền tải văn hóa Đức qua ngôn ngữ.
Đây chính là một trong những lý do thôi thúc chúng tôi lựa chọn đề tài Tính cách văn hóa Đức cho luận án của mình. Tổng quan tình hình nghiên cứu Văn hóa Đức, trong đó có tính cách Đức nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu trong lẫn ngoài nước Đức. Các nghiên cứu đến từ nhiều lĩnh vực nên xem xét đối tượng ở nhiều góc độ khác nhau. Có thể tập trung các nghiên cứu thành hai nhóm, đó 3 là các công trình mang tính lý luận và các công trình mang tính thực tiễn.
Mỗi nhóm được chia thành hai nhóm nhỏ, bao gồm các công trình nghiên cứu của học giả Đức và các công trình nghiên cứu của học giả nước ngoài, trong đó có học giả Việt Nam. Các công trình nghiên cứu mang tính lý luận Trong nhóm này, các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài, phần lớn là các học giả đến từ Mỹ, chiếm ưu thế so với công trình của các học giả Đức và học giả các nước khác. Trước hết, phải kể đến công trình nổi bật của trường phái Văn hóa và nhân cách mang tên “Các mô thức văn hóa" (Patterns of culture – Nxb. 1934/2005) của Ruth Benedict.
Benedict cho rằng “một nền văn hóa – cũng giống như một cá nhân – ít nhiều là một hình mẫu / mô thức tư duy và hành động nhất quán. Mỗi một nền văn hóa tạo ra những mục đích đặc trưng mà họ không cần phải chia sẻ với những xã hội khác” (Benedict, 20058, tr. 54) và phân loại văn hóa ra hai mô thức chính, đó là mô thức kiểu “Apollo” (Apollonian) và mô thức kiểu “Dionysus” (Dionysian). Công trình rất có ý nghĩa nền tảng cho luận án của chúng tôi.
Hall trong “Chiều kích ẩn dấu9” (The Hidden Dimension – Nxb.) đã nghiên cứu cách con người đến từ nhiều nền văn hóa khác nhau sử dụng không gian giao tiếp (proxemic) như thế nào. Hall cho rằng phản ứng sở hữu không gian đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người. Nghiên cứu cách lựa chọn và ứng xử trong vùng không gian xung quanh giúp hiểu rõ tâm thức văn hóa của từng cộng đồng hoặc quốc gia dân tộc. Tác giả lý giải 4 vùng/ khoảng cách giao tiếp khác nhau tùy theo đối tượng giao tiếp cũng như văn hóa giao tiếp của mỗi cộng đồng khác nhau, đó là vùng thân mật (intime distance), vùng riêng tư (personal distance), vùng xã giao (social distance) và vùng đại chúng (public distance).
Lý thuyết không gian giao tiếp có thể được vận dụng hiệu quả để triển khai đề tài. Jachbar và Kelvin Lause trong “Giới thiệu về Văn hóa đại chúng” (Popular Culture – An Introductory Text – Nxb. Popular Press) đã đề xuất lý thuyết Ngôi nhà văn hóa với một tầng móng và hai tầng lầu, qua đó, tâm thức văn hóa, những 8 Công trình “Các mô thức văn hóa” (Pattern of culture) được xuất bản đầu tiên vào năm 1934. Bản gốc mà chúng tôi tiếp cận được tái bản vào năm 2005.
Vì vậy mọi thông tin về số trang được trích dẫn trong luận án đều từ bản in năm 2005. 9 Ấn phẩm được xuất bản lần đầu vào năm 1966. 4 niềm tin và giá trị nền tảng, những niềm tin và giá trị bề mặt tương tác lẫn nhau. Những sản phẩm văn hóa, những anh hùng hư cấu và anh hùng tồn tại thật trong thực tế được phân tích.
Tất cả giúp tìm ra hệ giá trị của một nền văn hóa. Công trình có giá trị về mặt lý luận để triển khai luận án. Erin Meyer trong “Bản đồ văn hóa”, xuất bản năm 2014, so sánh tính cách Đức với tính cách Mỹ. Theo đó, người Đức và người Mỹ có rất nhiều điểm tương đồng trong tính cách như: đánh giá người khác dựa vào năng lực và sự đúng giờ.
Một số tính cách khác biệt ở mức độ thể hiện. Cụ thể, người Đức phê bình nhiều hơn và thẳng thắn hơn (tr. Khác biệt duy nhất là người Đức trọng lý thuyết còn người Mỹ trọng thực hành (tr. Đây là công trình rất có giá trị về mặt lý thuyết để vận dụng nghiên cứu nội dung luận án.
Trần Ngọc Thêm trong “Những vấn đề văn hóa học lý luận và ứng dụng” (Nxb.) đề xuất thuyết hệ thống - loại hình, theo đó văn hóa được chia theo hai loại hình chính, là “văn hóa trọng tĩnh” và “văn hóa trọng động”. Giữa hai loại hình chính là loại hình trung gian. Ở mỗi loại hình văn hóa, con người nhận thức, tổ chức và ứng xử khác nhau dẫn đến những tính cách được hình thành cũng khác nhau. Đây là công trình của học giả Việt Nam thuộc lĩnh vực văn hóa học rất có giá trị tham khảo cho đề tài.
Trong “Văn hóa và tổ chức – phầm mềm tư duy” (bản tiếng Việt thuộc Nxb. ĐHQG Hà Nội, 668 tr. dựa trên hệ thống dữ liệu gốc mà Hofstede G. đã tổng hợp khi nghiên cứu các nhân viên MBI năm 1991, 2005 để đề xuất 6 chiều kích văn hóa giúp nhận diện đặc tính của mỗi quốc gia: khoảng cách quyền lực; chủ nghĩa cá nhân tương phản với chủ nghĩa tập thể; nam tính tương phản với nữ tính; tâm lý tránh bất định; định hướng dài hạn tương phản với định hướng ngắn hạn; đam mê, hưởng thụ tương phản với kiềm chế (tr.
Nhóm tác giả có mẫu dữ liệu khảo sát con người tại 50 quốc gia (tr.59), những số liệu mỗi nước được thống kê thành từng bảng riêng, trong đó có số liệu về Đức. Thuyết các chiều kích văn hóa rất có giá trị tham khảo cho luận án của chúng tôi. Về cơ sở cho các khái niệm then chốt của luận án, có công trình của Larsen Knud S. và Lê Văn Hảo với tựa đề “Tâm lý học xuyên văn hóa” (Nxb.
ĐHQGHN- 2015) rất đáng tham khảo.