phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, hình ảnh và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương 7 tiết. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN VAI TRÒ CỦA TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG PHỤ NỮ HUYỆN AN BIÊN 1. Lý luận chung về vai trò của tín ngƣỡng, tôn giáo trong đời sống cộng đồng phụ nữ 1.
Khái quát chung về tín ngưỡng, tôn giáo Thuật ngữ tín ngưỡng và tôn giáo hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí có những tranh luận trái chiều. Đây là hai khái niệm không đồng nhất nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau và có sự phân biệt về ranh giới một cách tương đối. Theo tác giả Nguyễn Đức Lữ cho rằng, tín ngưỡng được hiểu theo hai nghĩa: theo nghĩa rộng khái niệm tín ngưỡng rộng hơn khái niệm tôn giáo; còn theo nghĩa hẹp tín ngưỡng (đức tin) là bộ phận cấu thành của tôn giáo. “Tín ngưỡng là niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào một hiện tượng, một lực lượng, một điều gì đó thông thường để chỉ một niềm tin tôn giáo.
Còn tôn giáo thường được hiểu là một trong những hình thức tín ngưỡng có quan niệm, ý thức, hành vi và các tổ chức tôn giáo. Tôn giáo thường có giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức Giáo hội” [38, tr. Ở Việt Nam, hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội. Còn hoạt động tôn giáo là việc tuyên truyền, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý, tổ chức của tôn giáo.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo quan niệm của các nhà kinh điển Mác xít, với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo phản ánh và bị quy định bởi tồn tại xã hội, nhưng đó là “sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [9, tr. Thông qua các chức năng đặc thù như đền bù hư ảo, thế giới quan, điều chỉnh hành vi, liên kết, gián tiếp mà tín ngưỡng, tôn giáo tác động đến các lĩnh vực của đời sống tinh thần, vật chất xã hội theo cả hai chiều tích cực và tiêu cực. Tôn giáo, tín ngưỡng với tính cách là niềm tin đã đưa ra những quan niệm về lực lượng siêu nhiên, hướng con người tới những lực lượng ấy với mong muốn nhận được sự trợ giúp, che chở, giải quyết những nhu cầu thực dụng của họ ở ngay thế giới hiện tại và thế giới sau khi chết có thể là Thiên đường, niết bàn hay chốn Tây phương cực lạc… Là một trong những hiện tượng của đời sống xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo thông qua các hành vi, lễ nghi, tổ chức, hoạt động của mình tạo nên một cộng đồng xã hội đặc thù liên kết giữa những người cùng tín ngường và có tác động, ảnh hưởng đến các lĩnh vực đời sống tinh thần, đời sống xã hội. Tôn giáo, tín ngưỡng có tính lịch sử, ra đời, tồn tại, biến đổi và mất đi cùng với sự vận động, biến đổi của xã hội loài người.
Phản ánh khát vọng của quần chúng về một xã hội tự do, bình đẳng, bác ái, là nhu cầu tinh thần, niềm tin của quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, tôn giáo, tín ngưỡng trong các xã hội có đối kháng giai cấp luôn bị giai cấp thống trị sử dụng để làm công cụ nô dịch hoặc ru ngủ người lao động, để họ chấp nhận sự áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị. Ngày nay, tín ngưỡng, tôn giáo đã và vẫn đang bị các thế lực chính trị phản động lợi dụng. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bản chất của tín ngưỡng, tôn giáo là một hiện tượng xã hội, một hình thái ý thức xã hội phản ánh xuyên tạc hiện thực khách quan biến lực lượng tự nhiên, xã hội thành lực lượng siêu nhiên; là “thế giới quan lộn ngược”, trong giải quyết mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội.
Tín ngưỡng, tôn giáo do con người sáng tạo ra, là biểu hiện của sự khốn cùng hiện thực, đồng thời là sự phản kháng chống lại sự khốn cùng hiện thực ấy. Đó là sự phản kháng tiêu cực, yếu đuối tự phát của tầng lớp nhân dân bị áp bức. Xét đến cùng, tín ngưỡng, tôn giáo áp bức con người về tinh thần, làm tha hóa con người.Mác đã chỉ rõ: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”[10, tr.Mác, tín ngưỡng, tôn giáo đã làm cho con người trở nên thụ động, cam chịu bị áp bức và trở thành nô lệ cho lực lượng siêu nhiên thần bí.
Trong xã hội có giai cấp đối kháng, giai cấp thống trị sử dụng tôn giáo như một phương tiện để áp bức, nô dịch và thủ tiêu ý chí đấu tranh của quần chúng lao động[10, tr. Tuy nhiên, trong tín ngưỡng, tôn giáo cũng hàm chứa những giá trị văn hóa đạo đức nhất định phù hợp với xã hội mới của chúng ta đang xây dựng, đòi hỏi chúng ta phải biết kế thừa, phát huy. Tín ngưỡng, tôn giáo luôn mang dấu ấn lịch sử của thời đại, của dân tộc mà nó ra đời, tồn tại và nó cũng biến đổi, thích ứng với sự biến đổi của xã hội. Thông thường, khi mới ra đời các tín ngưỡng, tôn giáo đều phản ánh nguyện vọng của quần chúng, nhưng trong quá trình tồn tại, vận động và phát triển thường bị các thế lực, giai cấp thống trị lợi dụng biến thành công cụ phục vụ cho lợi ích của chúng, chống lại lợi ích của quần chúng.
Tín ngưỡng, tôn giáo còn tồn tại lâu dài, còn là nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân. Điều này cũng được thể hiện trong Nghị quyết số 24 - NQ/TW ngày 16 tháng 10 năm 1990 của Bộ Chính 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trị về Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới: “Tôn giáo là một vấn đề còn tồn tại lâu dài. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”[12, tr.
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991) của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định quan điểm của Đảng về tôn giáo như sau: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng. Chống mọi hành động vi phạm tự do, tín ngưỡng, đồng thời chống lại việc lợi dụng tự do tín ngưỡng để làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân”[16, tr. Theo thống kê tính vào thời điểm năm 2011, trên đất nước ta có 13 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân, theo đó 33 tổ chức tôn giáo.
Nhưng đến hiện nay, theo số liệu thống kê của Ban Tôn giáo chính phủ chúng ta có 16 tôn giáo và hơn 40 tổ chức tôn giáo được công nhận pháp nhân. Bên cạnh đó là rất nhiều loại hình tín ngưỡng truyền thống của dân tộc như: Tín ngưỡng thờ thành hoàng làng, tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ cúng các anh hùng dân tộc…. Các tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam luôn được tạo mọi điều kiện hoạt động và tham gia xã hội hóa. “Nhiều lĩnh vực của đời sống văn hóa - xã hội có vai trò đóng góp không nhỏ của các tôn giáo, nhất là tôn giáo có đông tín đồ như Phật giáo, Công giáo, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa… Các tôn giáo ở Việt Nam đều có đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc không chỉ thể hiện ở khẩu hiệu mà còn ở hành động cụ thể.
Một số tôn giáo độc thần, ngoại nhập, tiêu biểu là Công giáo đang ngày càng hội nhập sâu vào văn hóa dân tộc” [12, tr. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Người Việt Nam không chỉ theo tôn giáo mà còn thực hành nhiều loại hình tín ngưỡng khác nhau. Tín ngưỡng được coi là mản văn hóa quan trọng trong truyền thống dân tộc và đời sống tâm linh. Trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, tín ngưỡng, tôn giáo ăn sâu vào đời sống tâm linh người Việt, chi phối hoạt động nhiều mặt của người Việt cũng như có vai trò, vị trí nhất định đối với đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc.
Hệ thống cấu trúc tôn giáo, tín ngưỡng của người Việt Nam hiện nay được tạo ra từ các luồng tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Đó là tín ngưỡng bản địa và tục thờ đa thần, tôn giáo ngoại sinh và tôn giáo nội sinh được hình thành ngay ở trong nước và các hiện tượng tôn giáo mới. Trong quá trình truyền bá, các tôn giáo ngoại sinh luôn phải thích ứng với hình thái văn hóa tín ngưỡng của người Việt Nam, do vậy chúng cũng có nhiều biến đổi, không còn nguyên dạng như trước nữa. Nói cách khác là các tôn giáo ngoại sinh khi vào Việt Nam đã được văn hóa Việt Nam đồng hóa với mức độ khác nhau [4, tr.
Dù tôn giáo ngoại nhập hay nội sinh thì tín đồ các tôn giáo này vẫn bị chi phối bởi hệ thức đa thần giáo, bởi tinh thần bao dung tôn giáo, luôn thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc. Yêu nước là một truyền thống quý báu của các tín đồ và tuyệt đại đa số chức sắc tôn giáo ở Việt Nam. Hơn ai hết, đồng bào các tôn giáo hiểu rất rõ rằng Tổ quốc có độc lập, tôn giáo mới tự do[4, tr. “Là một nước đa tôn giáo, tín ngưỡng nhưng tín đồ các tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam nhìn chung đều gắn bó với dân tộc, đồng thời là một nhân tố xã hội và văn hóa tích cực góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam phong phú, đa dạng và đặc sắc.