Mở đầu, nội dung, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo. Phần nội dung gồm 2 chƣơng 4 tiết. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.
Khái quát chung về tín ngƣỡng thờ Mẫu 1. Khái niệm tín ngưỡng thờ Mẫu Từ xa xƣa, con ngƣời Việt Nam đã biết dựa vào thiên nhiên, khai thác thiên nhiên để duy trì sự sống cho mình. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của điều kiện tự nhiên cùng với việc không lý giải đƣợc một số hiện tƣợng tự nhiên đang diễn ra nên con ngƣời đã có ý thức thờ cúng các yếu tố, hiện tƣợng tự nhiên. Điểm đặc biệt trong tín ngƣỡng Việt Nam là một tín ngƣỡng đa thần và có sự đề cao phần âm tính.
Sự đề cao yếu tố âm tính của văn hóa nông nghiệp dẫn đến hệ quả trong quan hệ xã hội là lối sống thiên về tình cảm, trọng phụ nữ, và trong tín ngƣỡng là tình trạng các nữ thần chiếm ƣu thế. Chính bởi sự coi trọng thiên nhiên, đề cao yếu tố âm tính và quan niệm “xét về bản chất tự nhiên và tính nữ có những điểm chung cơ bản. Đó là: sản sinh, bảo trữ và che chở” [62, tr 386]” nên “ngƣời Việt có xu hƣớng nữ tính hóa các hiện tƣợng tự nhiên, biến các thần tự nhiên thành các nữ thần và tôn phong nhiều vị nữ thần là Mẹ, Mẫu” [57, tr12]. Với nền tảng là nền nông nghiệp lúa nƣớc cùng chế độ gia đình tiểu nông phụ quyền sinh sống trong môi trƣờng làng xã, tục thờ Mẫu phát triển từ hình thức thờ cúng rời rạc các Nữ thần, đến các Mẫu thần và dần quy tụ, thống nhất thành một hệ thống hoàn chỉnh thờ Tam phủ - Tứ phủ phản ánh tƣơng đối đầy đủ nhận thức của con ngƣời cũng nhƣ tiến trình lịch sử của xã hội.
Về cách gọi tục thờ Mẫu giới nghiên cứu có nhiều quan niệm khác nhau. Trong đó khái quát thành ba tên gọi nhƣ sau: 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ nhất, tục thờ Mẫu đƣợc gọi là tín ngƣỡng thờ Mẫu và chỉ là một loại hình tín ngƣỡng dân gian. Bởi “hình tƣợng Mẫu hoàn toàn là sản phẩm của loại hình tín ngƣỡng dân gian chứ không phải là một tôn giáo chính thống” [76; tr 53- 54], “tín ngƣỡng này sinh từ thực tế cuộc sống cộng đồng con ngƣời ý thức về một dạng thần linh nào đó, rồi cộng đồng con ngƣời ấy tin theo, tôn thờ lễ bái, cầu mong cho hiện thực cuộc sống, gây thành một nếp sống xã hội theo niềm tin tín ngƣỡng thiêng liêng ấy” [14, tr 22]. Bên cạnh đó, có ý kiến lại cho rằng thờ Mẫu là một Đạo.
Ngô Đức Thịnh cho rằng ““Đạo” ở đây theo ý nghĩa là con đƣờng, cách thức đƣa con ngƣời đạt tới niềm tin vào cái thiêng liêng, siêu nhiên” [61, tr17]. Đồng nhất với quan điểm của GS. Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Đăng Duy cũng kết luận thờ Mẫu là một “đạo” nhƣng “ở đây cũng vẫn hiểu đạo thờ Mẫu chƣa phải là tôn giáo vì nó không có tín điều giáo lý, giáo chủ, đạo là con đƣờng, cách theo” [14, tr141] Thứ ba, có ý kiến lại cho rằng “Đạo Mẫu trong quá trình nảy sinh, vận động và biến đổi đã và đang chuyển hóa từ tín ngƣỡng nguyên thủy để trở thành một tôn giáo sơ khai” [39; tr 88], hay thờ Mẫu “đã là một tôn giáo chứ không còn là một tín ngƣỡng, theo kiểu thờ cúng tổ tiên trong gia đình hay thờ cúng anh hùng dân tộc tại một số đền riêng lẻ. Đạo Mẫu đã có những hoạt động mang tính đặc trƣng tôn giáo” [38; tr 502].
Có thể thấy, vấn đề tín ngƣỡng, tôn giáo ở Việt Nam là một hệ thống phức tạp mà bản thân khái niệm tín ngƣỡng và tôn giáo chƣa có sự phân định rõ ràng. Sự phân biệt giữa tín ngƣỡng và tôn giáo mang tính chất tƣơng đối dựa trên mức độ niềm tin và cơ cấu tổ chức của hai hiện tƣợng xã hội này. Đặng Nghiêm Vạn cho rằng, thuật ngữ “tín ngƣỡng” có thể có hai nghĩa. Khi nói đến tự do tín 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngƣỡng có thể hiểu là niềm tin nói chung hay niềm tin tôn giáo.
Nếu hiểu tín ngƣỡng là niềm tin thì có một phần ở ngoài tôn giáo, nếu hiểu là niềm tin tôn giáo thì tín ngƣỡng chỉ là một bộ phận chủ yếu nhất cấu thành nên tôn giáo [84]. Niềm tin của tín ngƣỡng dân gian khác với tín ngƣỡng tôn giáo. Niềm tin ở tín ngƣỡng tôn giáo là niềm tin vào đấng siêu nhiên là biểu tƣợng của một tôn giáo. Còn niềm tin ở tín ngƣỡng dân gian chỉ mang màu sắc tôn giáo.
Tín ngƣỡng dân gian vẫn chỉ gắn bó với sinh hoạt của con ngƣời. Còn tôn giáo là “một thứ tổ chức lấy thần đạo làm trung tâm mà lập nên giới ƣớc để khiến ngƣời ta tín ngƣỡng” [3; tr 306]. Nhƣ vậy, Nếu coi tôn giáo là tiểu hệ thống kiến trúc thƣợng tầng tức là tôn giáo sẽ bao gồm: ý thức, sự thờ cúng, tổ chức hay giáo hội; còn ở tín ngƣỡng chƣa có đầy đủ các bộ phận kể trên. Tôn giáo và tín ngƣỡng đều là hiện tƣợng xã hội, nhƣng hiện tƣợng tôn giáo lại có sự gắn kết để trở thành một thiết chế mang những tên gọi khác nhau nhƣ: giáo hội, hội đồng, ban trị sự,.
còn tín ngƣỡng thƣờng gắn với cộng đồng ngƣời, phong tục tập quán, văn hóa của cộng đồng ấy, “là hoạt động thờ cúng tổ tiên, các biểu tƣợng linh thiêng; tƣởng niệm và tôn vinh ngƣời có công với đất nƣớc, với cộng đồng; các lễ nghi dân gian tiêu biểu cho những giá trị lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội” [10, tr 1] Căn cứ vào những điều trên thì trong luận văn này tác giả gọi tục thờ Mẫu với tên gọi là tín ngƣỡng thờ Mẫu. Tín ngƣỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngƣỡng dân gian bản địa là hệ quả của các quan hệ xã hội đƣợc hình thành trong quá trình lịch sử - văn hóa bắt nguồn từ sự sùng bái tự nhiên, Nữ thần trải qua quá trình lịch sử tín ngƣỡng có xu hƣớng kế thừa, tiếp thu và giao lƣu tiếp biến hƣớng đến phát triển thành một tôn giáo bản địa của dân tộc Việt Nam phản ánh tƣơng đối hoàn chỉnh nhận thức của con ngƣời về môi trƣờng tự nhiên và xã hội. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Mẫu” có gốc từ Hán Việt, trong tiếng việt nghĩa là mẹ, mụ, mế, má dùng để chỉ đấng sinh thành ra mỗi chúng ta, là tiếng xƣng hô của ngƣời con đối với ngƣời sinh ra mình. Ngoài ý nghĩa xƣng hô thông thƣờng, từ Mẫu và Mẹ còn bao hàm ý nghĩa tôn vinh ví dụ nhƣ Mẹ Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu nghi thiên hạ,.
là các vị thần linh gắn với các hiện tƣợng thiên nhiên, vũ trụ có chức năng sáng tạo, bảo trợ và che chở cho sự sống của con ngƣời nhƣ trời, đất, sông nƣớc, rừng núi,. Mẫu còn để chỉ sự sinh sôi, nảy nở, sinh hóa không ngừng của vạn vật nhƣ những danh xƣng: Mẹ Cây, Mẹ Đất, Mẹ Lúa, Mẹ Chim, Mẹ Cá,. Nhƣ vậy, Mẫu trong tín ngƣỡng thờ Mẫu chỉ sự đùm bọc, che chở, bao dung, độ lƣợng, nuôi dƣỡng, sự sinh sôi nảy nở và không mang ý nghĩa là đấng sáng thế nhƣ những tôn giáo khác. Tín ngƣỡng thờ Mẫu “có thể là tín ngƣỡng sớm nhất của con ngƣời Việt trƣớc khi du nhập tam giáo Phật, Nho và Đạo” [20, tr145].
Ngƣời ta chƣa biết chính xác tín ngƣỡng có từ khi nào nhƣng một số nhà nghiên cứu cho rằng “tín ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ III hoặc thứ II trƣớc công nguyên. Tín ngƣỡng thờ Mẫu có nguồn gốc ở miền Bắc từ lúc ngƣời Việt khai thác đồng bằng Bắc Bộ” [75, tr49]. Tín ngƣỡng bắt đầu từ tục thờ thần tự nhiên có từ thời nguyên thủy; qua các giai đoạn lịch sử, chịu sự chi phối của đời sống kinh tế - chính trị - xã hội dần phát triển thành tục thờ Nữ thần. Ngay từ thời kỳ của xã hội cộng sản nguyên thủy, ở giai đoạn Mẫu hệ, ngƣời ta đã thấy dấu hiệu của tục thờ Nữ thần (“Tín ngƣỡng thờ hình tƣợng ngƣời phụ nữ xuất hiện từ thời nguyên thủy sơ khai khi con ngƣời có ý niệm về linh hồn ngƣời chết” [75, tr48]).
Thờ Nữ thần là những vị thần là Nữ bao gồm nhiên thần là thần mây, thần mƣa, thần sấm, thần chớp (Tứ pháp), Mẹ Lúa, Mẹ Chim, Mẹ Cá,. Với đặc trƣng nền văn minh nông nghiệp, con ngƣời sinh sống chủ yếu nhờ vào 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com canh tác nông nghiệp mà cây lúa nƣớc là cây canh tác chính nên họ rất coi trọng yếu tố tự nhiên. Họ thần thánh hóa, nữ tính hóa các yếu tố trời, đất, nƣớc thành Mẫu Thiên, Mẫu Thoải (Mẫu Thủy), Mẫu Địa và gắn cho chúng một sức mạnh siêu nhiên để cầu mong đất đai màu mỡ, thời tiết, khí hậu mƣa thuận gió hòa tạo điều kiện cho cây cối phát triển “nhân khang, vật thịnh”. Nhân thần là các vị thần có công sinh thành, bao bọc, giúp đỡ con ngƣời, là anh hùng dân tộc có công với nƣớc nhƣ Mẫu Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh, Hai Bà Trƣng,.
Về khái niệm tín ngƣỡng thờ Mẫu, GS. Ngô Đức Thịnh nhấn mạnh “Mẫu đều là Nữ thần nhƣng không phải tất cả Nữ thần đều là Mẫu thần, mà chỉ một số Nữ thần đƣợc tôn vinh là Mẫu thần” [65, tr29], và chỉ những Nữ thần là chủ thể sinh nở mới đƣợc tôn vinh là Mẫu. Sau phát triển thành thờ Mẫu Thần và thờ Tam phủ - Tứ phủ. Nhƣ vậy, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của cuộc sống thƣờng ngày mà con ngƣời đã tôn vinh các vị thần tự nhiên để phục vụ cho mục đích của bản thân mình.
Đó là Mẫu Thiên (Mẹ trời), Mẫu Thƣợng Ngàn (Mẹ rừng), Mẫu Thoải (Mẫu Thủy) (Mẹ nƣớc), Mẫu Địa (Mẹ đất) là hệ thống Mẫu cơ bản ban đầu của tín ngƣỡng thờ Mẫu. Đến thế kỷ XVI - XVII, tín ngƣỡng thờ Mẫu ở Việt Nam đƣợc hoàn thiện dƣới ảnh hƣởng trực tiếp của hoàn cảnh kinh tế - xã hội và văn hóa. Thời kỳ này xã hội phong kiến Việt Nam khủng hoảng về mọi mặt: tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến Trịnh - Mạc, Trịnh - Nguyễn; kinh tế suy thoái, ý thức Nho giáo ngày càng suy đồi, tôn ti trật tự xã hội bị đảo lộn, nhân dân phải sống cơ cực. Lúc này ngƣời phụ nữ là tầng lớp bị vùi dập, chà đạp nhiều nhất.