chương I, điều 3 có quy định: Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức, xã hội [3, tr. Theo đó, tín ngưỡng có hai nghĩa rộng và hẹp. Nghĩa rộng, tín ngưỡng chỉ niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người về một lực lượng, một chủ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuyết, nhưng thường được hiểu là niềm tin vào một lực lượng siêu nhiên có khả năng chi phối, thậm chí quyết định số phận của con người. Đó là tín ngưỡng có tính tôn giáo.
Như vậy, tín ngưỡng là chỉ niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào một lực lượng siêu nhiên nào đó. Nghĩa hẹp, tín ngưỡng là chỉ một niềm tin. Đó là yếu tố quan trọng nhất cấu thành của ý thức tôn giáo. Do vậy, có thể quan niệm tín ngưỡng như sau: Tín ngưỡng là một bộ phận của ý thức xã hội, là một yếu tố thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần, là hệ quả của các quan hệ xã hội, được hình thành bởi quá trình lịch sử - văn hóa, là biểu hiện của sự biết ơn với người có công và sự thể hiện niềm tin dưới dạng tâm lý xã hội vào cái thiêng liêng thông qua hệ thống lễ nghi thờ cúng của con người và cộng đồng người trong xã hội.
Ở nước ta, khi đề cập tới vấn đề tín ngưỡng thường đồng nhất với tín ngưỡng dân gian. Tín ngưỡng dân gian và các hình thức biểu hiện phong phú trong đời sống tâm linh người Việt, là một nội dung nổi bật của tín ngưỡng Việt Nam. Tín ngưỡng dân gian là một loại hình sinh hoạt tinh thần đã ra đời và phát triển rộng khắp trong các cộng đồng dân cư. Ngay từ khi xã hội loài người xuất hiện thì tín ngưỡng dân gian đã bắt đầu phôi thai.
Trong cuộc sống của mình, con người ở thời kỳ đầu chưa thể hiểu được các hiện tượng tự nhiên, không biết được quy luật vận động và biến đổi của tự nhiên nên họ đã cho tất cả các hiện tượng ấy đều do thần linh tạo ra. Vì vậy, họ đã thờ cúng thần linh, cầu mong sự che chở của thần linh. Hơn nữa, sự bất công, bất bình đẳng trong đời sống xã hội đã khiến nhiều người phải chịu cảnh khốn cùng, khổ đau, lo âu và sợ sệt. Trước tình cảnh ấy, họ không còn cách nào khác là cầu xin sự ban ơn, cứu rỗi và sự che chở của các lực lượng siêu nhiên, của thần linh, Thượng đế.
Chính vì thế mà tín ngưỡng dân gian đã hình thành. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khái niệm tín ngưỡng dân gian dùng để chỉ những loại hình tín ngưỡng đã xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử người Việt như tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ thần nông nghiệp, tín ngưỡng thờ Nữ thần… Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này. Theo Phạm Ngọc Quang: Tín ngưỡng dân gian cũng có thể và cần được xem là một yếu tố, một bộ phận văn hóa dân gian. Từ quan niệm đó, nếu văn hóa dân gian được hiểu là loại hình văn hóa ra đời nhờ sự sáng tạo của chính nhân dân, thì tín ngưỡng dân gian cũng có thể xem là loại hình tín ngưỡng tôn giáo do chính nhân dân, trước hết là những người lao động, sáng tạo ra trên cơ sở những tri thức phản ánh sai lạc dưới dạng kinh nghiệm cảm tính từ cuộc sống thường nhật của bản thân mình [47, tr.
Tín ngưỡng dân gian còn phản ánh những ước nguyện tâm linh của con người và cả cộng đồng, là niềm tin vào thần linh thông qua những nghi lễ, gắn liền với phong tục tập quán truyền thống. Tín ngưỡng dân gian được hiểu là loại hình tín ngưỡng ra đời từ rất sớm trong lịch sử, tồn tại chủ yếu ở cộng đồng làng xã, có khả năng tự biến đổi theo hoàn cảnh bởi sự bổ sung những tri thức mang tính trực quan, đời thường của những người lao động (trước hết là nông dân) trong quá trình sinh sống, sản xuất và thường gắn liền với các hoạt động sinh hoạt văn hóa, phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư [76, tr. Như vậy, tín ngưỡng dân gian là lòng ngưỡng mộ, tin tưởng của con người đối với các lực lượng siêu nhiên nào đấy. Người ta tin rằng, các lực lượng siêu nhiên này có năng lực ban ơn, giáng họa, có khả năng che chở cho con người.
Tín ngưỡng dân gian Việt Nam chủ yếu dựa trên lòng biết ơn và ngưỡng mộ của các thế hệ sau đối với tiền thân, tiền nhân. Tín ngưỡng dân gian khá phong phú, nó là tâm thức tôn sùng các lực lượng siêu nhiên như: 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Tôn sùng tự nhiên (mặt trời, mặt trăng, nước, mưa, gió, sấm, chớp…), các loại cây trồng (bầu bí, lúa, ngô, đậu…), vật nuôi (trâu, bò, lợn…). - Tôn sùng vật tổ (vật tổ chim, cá, cây, trâu…), tôn sùng tổ tiên (quốc tổ, thành hoàng, tổ tiên, ông bà). - Tôn sùng sự sinh sản: sinh thực khí và các hoạt động tính giao.
- Tôn sùng Mẫu: các Nữ thần, tứ Mẫu (thiên phủ, địa phủ, nhạc phủ (thượng ngàn), thủy phủ (mẫu thoải), Bà chúa xứ và Thiên Yana… - Tôn sùng các anh hùng dân tộc, anh hùng địa phương, người có công lớn với dân với nước: Thánh Gióng, đức Thánh Trần, Tản Viên Sơn Thánh, Bà Trưng, Lý Ông Trọng… Từ tâm thức sùng bái đó, trong các cộng đồng hình thành các phong tục tập quán và nghi lễ thờ cúng tự nhiên, thờ cúng tổ tiên, thờ Mẫu và nghi lễ phồn thực. Đó là những nghi lễ và phong tục rất quen thuộc đối với người Việt khắp nơi trong cả nước. Mỗi loại tín ngưỡng này đều có nguồn gốc sâu xa từ quan hệ giữa con người với các đối tượng siêu nhiên kia. Chẳng hạn, tại sao con người lại sùng bái tự nhiên? Là bởi trong sinh hoạt và lao động, hàng ngày hàng giờ tự nhiên gắn bó mật thiết và chi phối sự thành - bại, tốt - xấu, hay - dở trong hoạt động của con người.
Nó nảy sinh sự sợ hãi hay e ngại, tâm lí ngưỡng mộ hay sùng bái, cũng từ đó con người nhìn nhận tự nhiên như những đấng linh thiêng, thần thánh. Con người đưa tự nhiên vào bàn thờ các gia đình hay trong miếu điện. Tự nhiên thành biểu tượng trong tín ngưỡng thờ cúng, trong văn hóa mỗi dân tộc, trong văn học và nghệ thuật nhiều thời đại. Đó cũng là con đường chung để các tín ngưỡng thẩm thấu vào văn hóa hay sinh hoạt cộng đồng nhiều dân tộc trên thế giới mà không phải chỉ riêng ở Việt Nam.
Khái quát về các hình thức tín ngưỡng Tín ngưỡng Việt Nam được biểu hiện với nhiều hình thức đa dạng và phong phú. Dưới đây là một số hình thức tín ngưỡng phổ biến trong đời sống tâm linh người dân Việt: 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tín ngưỡng phồn thực bao hàm tính phổ quát rộng lớn trong kho tàng tín ngưỡng văn hóa dân gian Việt Nam. Với cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, các biểu tượng âm - dương, đất - trời, non - nước là những nhân tố chính tạo nên sự sinh sôi nảy nở của vạn vật, tất cả quyện hòa giữa sinh khí tự nhiên để tồn tại và phát triển. Trong mọi thời đại, con người vẫn có ước nguyện được tìm hiểu, nắm bắt mọi điều về thế giới xung quanh.
Thực tiễn đó đã hình thành nên hệ thống tín ngưỡng đa dạng và phong phú, trong đó có tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thể hiện niềm tin của con người trong nguyện cầu được sinh sôi nảy nở, phát triển giống nòi, ước mong được sản xuất phồn thịnh, mùa màng được bội thu. Nhân gian xưa còn quan niệm qua trực giác, năng lượng thiêng liêng được tích tụ trong thiên nhiên hay trong bản thân mỗi người có khả năng chuyển sang vật nuôi và cây trồng. Bởi vậy, tín ngưỡng phồn thực với nhiều nghi thức thờ cúng trong dân gian ngày càng phát triển. Tín ngưỡng phồn thực là tín ngưỡng bản địa của các nước nông nghiệp.
Phồn nghĩa là nhiều; Thực là sinh sôi nảy nở. Tín ngưỡng phồn thực được thể hiện qua sự tôn sùng sinh sản và hoạt động tính giao. Tín ngưỡng này ra đời từ rất cổ, khi con người từ chỗ không hiểu hoặc hiểu sai về nguyên nhân sinh sản đến chỗ bắt đầu hiểu được nguồn gốc sinh sản của muôn vật và loài người là sự kết hợp đực - cái, nam - nữ, âm - dương… Sự sinh sản ấy của vạn vật khiến cuộc sống no đủ, con người dần lấp đầy mặt đất, đông đúc vui vẻ. Sự sinh sản vì vậy trở nên linh thiêng, và phát hiện ra nguyên nhân chính xác của sự sinh sản là một phát hiện mới mẻ tuyệt vời khiến con người sùng bái.
Từ đó nó được thể hiện ra trong các hoạt động văn hóa theo hai phương thức: nghi lễ thờ cúng sinh thực khí nam nữ và tôn sùng hoạt động tính giao. Tín ngưỡng đó thể hiện trong tín hiệu, biểu tượng: âm - dương; trời - đất; tròn - vuông; chẵn - lẻ; quả phết - lỗ phết; bánh chưng (tét) - bánh giày; mo cau - cái dùi, cái cối - cái chày… Những biểu tượng này đã đi vào nghệ thuật bằng hình chạm khắc các ngẫu tượng bằng đá hay bằng gỗ; có mặt trong các trò 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chơi dân gian như trò trám, trò rước nõ nường, đánh phết, ném còn; đi vào văn học dân gian với thần thoại về các cặp đôi Nam - Nữ thần như Nữ Oa - Tứ Tượng, Ông Đùng - Bà Đà, Ông Đực - Mụ Cái, Ông Thu Tha - Bà Thu Thiên mà các sinh thực khí được đặc tả và phóng đại. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một loại hình tín ngưỡng cổ truyền mang tính phổ quát của dân tộc ta. “Thờ tổ tiên của người Việt theo nghĩa rộng là thờ thần linh bốn cấp: Nước (Vua Hùng) - Làng (thần làng, đặc biệt là thần hoàng làng) - Dòng họ (tổ họ) - Gia đình tổ tiên (3 đời hoặc 5 đời).
Hoặc ba cấp: Nước - Làng - Gia đình. Thờ thần linh bốn cấp thường thấy ở khu vực Miền Bắc, nhất là vùng Đồng bằng Bắc bộ, nơi người kinh có sự định cư lâu dài.