phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn gồm có 2 chương và 5 tiết 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN NGƢỠNG THỜ CÚNG VÀ TÍN NGƢỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƢỜI TÀY Ở LỤC YÊN - YÊN BÁI 1. Điều kiện hình thành tín ngƣỡng thờ cúng, tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên của ngƣời Tày ở Lục Yên.1 Lịch sử hình thành huyện Lục Yên Lục Yên là một đơn vị hành chính cấp huyện trên địa bàn tỉnh Yên Bái hiện nay. Trước đây, đầu thế kỉ XIX thuộc về Hưng Hoá và Tuyên Quang. Vào năm 1910, Lục Yên được sáp nhập vào Yên Bái trở thành một trong 4 huyện và một châu, khi đó có 6 tổng.
Sau ngày hòa bình 1954 khi thành lập 2 huyện mới là Bảo Yên và Văn Yên theo Quyết định số 117/CP ngày 16/12/1964 của Hội đồng Chính phủ, 14 xã của Lục Yên được cắt về huyện Bảo Yên. Giai đoạn 1965 - 1975 theo Quyết định điều chỉnh các đơn vị cấp xã của Bộ trưởng Nội vụ số 21/NV ra ngày 28/1/1967, cắt 2 xã An Phú và Phú Mỹ của huyện Yên Bình sáp nhập về huyện Lục Yên. Sau đó theo Quyết định số 23/NV tại huyện Lục Yên, giải thể các xã Quyết Thắng, Tân Thành, Trần Phú, Hợp Thành và Đồng Tâm, điều chỉnh các xóm giải thể về các xã Tân Lập, Hồng Quang, Tô Mậu, Phúc Lợi, Tân Lĩnh. Tiếp theo là sự biến động về địa giới hành chính mới quyết định của Hội đồng Chính phủ thành lập thị trấn huyện lỵ Lục Yên.
Tại kỳ họp thứ IX, Quốc hội khoá VIII ngày 12/8/1991 quyết định chia tỉnh Hoàng Liên Sơn thành hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái. Trong đó tỉnh Yên Bái được tái lập bao gồm 8 đơn vị hành chính là thị xã tỉnh lỵ Yên Bái và 7 huyện: Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Văn Chấn, Yên Bình, Trấn Yên, Văn Yên, Lục Yên. Huyện Lục Yên nằm ở. Đông Bắc tỉnh Yên Bái, phía Bắc giáp với huyện Bắc Quang (Hà Giang), phía Tây giáp huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái, 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phía Nam giáp Hồ Thác Bà của huyện Yên Bình, phía Đông giáp huyện Hàm Yên (Tuyên Quang).
Huyện Lục Yên có huyện lỵ là thị trấn Yên Thế, nằm cách quốc lộ 70 khoảng 17 km về hướng đông và cách thành phố Yên Bái 90km về hướng bắc. Huyện có diện tích tự nhiên là 80.919,03ha, gồm 24 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn. HUYỆN LỤC YÊN Bản đồ hành chính huyện Lục Yên – Yên Bái 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Đặc điểm tự nhiên Vị trí địa lý: Lục Yên là một huyện miền núi, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Yên Bái.Với vị trí nằm sâu trong nội địa, nhưng Lục Yên là của ngõ Đông Bắc của tỉnh Yên Bái nối liền với các của khẩu của tỉnh Lào Cai, Hà Giang. Địa hình: Là một huyện miền núi, có địa hình chia cắt bởi các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, tạo ra các thung lũng và bồn địa bằng phẳng.
Nơi đây là địa bản sản xuất và sinh sống lâu đời của nhân dân các dân tộc ít người chung sống với người Kinh. Khí hậu: Huyện Lục Yên nằm trong đới khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 22ºC đến 24ºC, nhiệt độ cao nhất 39ºC đến 41ºC. Lượng mưa trung bình hàng năm tương đối lớn từ 1500 đến 2500mm, tập trung từ tháng 5 đến tháng 10. Thủy văn: Huyện nằm ở thượng lưu hồ Thác Bà và có sông Chảy chảy qua địa bàn có độ dài 65km cùng với đó với nhiều hệ sông suối nhỏ khác tạo nên điều kiện đi lại để nhân dân các dân tộc phát triển kinh tế.
Thổ nhưỡng: Trong quá trình hình thành thì đất ở Lục Yên chủ yếu là Faralit trong đó đất nông nghiệp có diện tích trên 15% tổng diện tích tự nhiên. Khoáng sản: Trên địa bàn huyện có nhiều khoáng sản trong đó nổi bật gồm có: Than nâu, đá ốp lát, đá quý, vàng, phốt pho rít, quặng sắt… 1.3 Truyền thống lịch sử văn hóa Những dấu tích văn hóa cổ ở Lục Yên Di chỉ Hang Hùm: Dấu vết cổ xưa nhất về người Việt cổ ở Lục Yên, là một trong nhiều hang của dãy núi Chùa thuộc xã Tân Lập huyện Lục Yên. Đây là nơi có di tích của người cổ đại (hiện nay đã bị ngập nước do hồ thủy điện Thác Bà). Tại đây năm 1964 các chuyên gia khảo cổ học người Đức và Viện khảo cổ học Việt Nam phát hiện hàng trăm hóa thạch của những động vật sống Kỷ Cảnh Tân cùng 4 răng của người vượn niên đại 14,8 vạn năm trước.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nền văn hóa Sơn Vi Tại Lục Yên những di tích của nền văn hóa Sơn Vi đầu tiên được phát hiện vào năm 1980 cho đến nay đã có 6 địa điểm trong đó đáng lưu ý nhất là điểm Làng Mủng của khu Đền Đại Cại (đều thuộc xã Tân Lĩnh) đây là nơi đã tìm thấy những công cụ bằng đá cuội không có dấu vết gia công hoặc được ghè đẽo thô sơ nhưng có dấu vết sử dụng, niên đại cách ngày nay trên dưới 1 vạn năm. Di chỉ thời đồ đồng, đồ sắt Đây là thời đại của văn hóa Đông Sơn cách đây trên dưới 2000 năm, hiện vật tiêu biểu được phát hiện là Trống Đồng làng Vặc (xã Minh Xuân), Rìu, Giáo đồng ở Khau Xẻn (xã An Phú) hiện đang được lưu giữ ở Bảo tàng tỉnh, mũi tên đồng ở Hang São (xã Tân Lập). Dấu tích Văn hóa-Lịch sử thời phong kiến Di tích trong thời kỳ phong kiến tự chủ nét nổi bật ở Lục Yên là những dấu tích thời Trần. Trong đó 2 quần thể di tích quan trọng nhất là chùa Tháp Hắc Y và chùa Hang ở làng Úc xã Tân Lập; còn lại là hàng chục các địa điểm di tích thuộc thời nhà Trần, Lê, Nguyễn đã được phát hiện ở nhiều nơi trong huyện.
Những di vật thu được ở đây thường là đồ sứ bao gồm các loại bình, lọ, bát, đĩa… Đáng chú ý là hai con voi sứ thời Trần được tìm thấy ở Làng Nong (Động Quan) và Lâm Thượng. Một di tích lịch sử khảo cổ học quan trọng không chỉ đối với tỉnh Yên Bái mà còn đối với cả nước đó là quần thể di tích miếu Hắc Ý đền Đại Cại, đình Bến Lăn, núi Thần Áo Đen, tại đây đã tìm thấy rất nhiều di vật nung được trang trí văn hóa rất cầu kỳ, tinh xảo thuộc văn hóa thời nhà Trần. Đây là cấu kiện của một tháp đất nung dấu tích của một công trình kiến trúc thời nhà Trần, có niên đại khoảng thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV. Đây là một tháp đất nung độc đáo có quy mô và kích thước to lớn đầu tiên tìm thấy ở Việt Nam.
Tại di tích đình Bến Lăn các nhà khảo cổ cũng tìm thấy một số tảng đá kê chân cột chạm hoa sen cùng nhiều vết tích 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gạch ngói, mảnh tháp nung chạm khắc hoa văn tinh xảo thuộc thời Trần. Di tích lịch sử miếu Hắc Y-Đền Đại Cại đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận di tích lịch sử văn hóa khảo cổ học cấp quốc gia (ngày 12/7/2001). Di tích lịch sử thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ: Khu di tích Cổ Văn-Mường Lai là cơ sở căn cứ cách mạng đầu tiên ở Lục Yên đã lớn mạnh không ngừng, là xuất phát điểm cho lực lượng cách mạng phát triển đi khắp nơi trong khu vực, ngày 08/7/1945 cuộc vận động giành chính quyền về tay cách mạng giành thắng lợi, người dân Lục Yên bừng bừng khí thế xây dựng củng cố chính quyền cách mạng, quyết tâm bảo vệ quê hương đất nước kháng chiến chống thực dân Pháp. Các tộc ngƣời ở Lục Yên 1.1 Khái quát về các tộc ở Lục Yên Dân số của huyện Lục Yên là 109.
Toàn huyện có 18 dân tộc anh em cùng chung sống gồm: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mường, Thái, Cao Lan, Giáy, Ngái, H’Mông. Theo số liệu của huyện Lục Yên năm 2015 người Tày có số dân 56.882 người chiếm 52%, Kinh chiếm 21,1%, Dao chiếm 14,5%, Nùng chiếm 10,4%, còn lại là các dân tộc khác. Đặc điểm phân bố dân cư ở Lục Yên không có lãnh thổ tộc người nhất định mà các tộc người phân bố xen kẽ với nhau. Tuy vậy mỗi dân tộc đều có vùng quần tụ đông đảo của mình,tại đây dân số dân tộc đó cao hơn các dân tộc khác.
Tiêu biểu như Người Dao ở Khai Trung, Tân Phượng, Tân Lĩnh; Người Tày ở Mường Lai, Minh Xuân, Lâm Thượng, Minh Chuẩn; Người Nùng ở Tân Lĩnh, Phan Thanh, Tân Lập. Các dân tộc cư trú ở những độ cao khác nhau nên phân thành vùng cao, vùng thấp và rẻo giữa. Nhà ở, tập quán sản xuất, đời sống văn hóa của mỗi tộc người có những đặc thù riêng biệt. Người Tày phân bố tại vùng thấp và rẻo giữa, gần thung lũng các con suối.
Kiến trúc nhà sàn và cách thức trồng lúa nước là đặc trưng cơ bản của người Tày nơi đây. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cùng sinh sống lâu đời trên mảnh đất Lục Yên các dân tộc anh em luôn giữ mối quan hệ truyền thống đoàn kết, thân ái, luôn giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất, phòng chống thiên tai và chống giặc ngoại xâm. Với số lượng đông đảo nhất trong số các dân tộc trên địa bàn, người Tày hiện nay đang đi đầu trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng đời sống văn hóa tại dân cư, góp phần không nhỏ vào sự phát triển của huyện. Về tộc Người Tày ở Lục Yên Người Tày tại Lục Yên có số dân đông nhất và cư trú ở vùng giữa khá ổn định, có nhiều đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Bên cạnh đó người Tày ở Lục Yên cũng xây dựng cho mình tại đây một không gian truyền thống văn hóa vô cùng đặc sắc, đóng góp vào bản sắc văn hóa chung của huyện Lục Yên. Nhìn chung kinh tế chính của người Tày ở Lục Yên là nền kinh tế nông nghiệp, đồng bào làm ruộng nước kết hợp với săn bắt, chăn nuôi và nghề thủ công. Với truyền thống lâu đời cùng với sự cần cù, sáng tạo trong lao động và tiếp thu khoa học kỹ thuật mới rất nhanh nên nông nghiệp lúa nước của người Tày phát triển tương đối cao. Cùng với việc thâm canh tốt hai vụ lúa, đưa giống mới vào sản xuất, tăng vụ ngô đông, đồng bào Tày phát triển mạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm; tích cực phát triển nghề thủ công truyền thống, nghề rừng và trồng mới các loại cây công nghiệp như: chè, quế, sắn….