CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các khái niệm liên quan 1. Tín ngưỡng Trong luận văn này tác giả sẽ sử dụng một số khái niệm liên quan đến nội dung. Thực tế cho đến nay một số khái niệm như: tín ngưỡng, tôn giáo còn có nhiều ý kiến khác nhau.
Tuy nhiên, các khái niệm được nêu trong bài là các khái niệm phổ biến và được sử dụng nhiều nhất. Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng. Tín ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo. Tín ngưỡng mang tính dân tộc, dân gian nhiều hơn tôn giáo, tín ngưỡng có tổ chức không chặt chẽ như tôn giáo.
Khi nói đến tín ngưỡng người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc có một số đặc điểm chung, còn tôn giáo thì thường không mang tính dân gian. Tín ngưỡng không có một hệ thống điều hành và tổ chức như tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng riêng lẻ và rời rạc. Tín ngưỡng phát triển đến một mức độ nào đó thì có thể thành tôn giáo. Tôn giáo Tôn giáo hay đạo đôi khi đồng nghĩa với tín ngưỡng, thường được định nghĩa là niềm tin vào những gì siêu nhiên, thiêng liêng hay thần thánh, cũng như những đạo lý, lễ nghi, tục lệ và tổ chức liên quan đến niềm tin đó.
Những ý niệm cơ bản về tôn giáo chia thế giới thành hai phần: thiêng liêng và trần tục. Trần tục là những gì bình thường trong cuộc sống 12 con người, còn thiêng liêng là cái siêu nhiên, thần thánh. Đứng trước sự thiêng liêng, con người sử dụng lễ nghi để bày tỏ sự tôn kính, sùng bái và đó chính là cơ sở của tôn giáo. Điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo: Tôn giáo có hệ thống giáo lý, kinh điển…, được truyền thụ qua giảng dạy và học tập ở các tu viện, thánh đường, học viện…, có hệ thống thần điện, có tổ chức giáo hội, hội đoàn chặt chẽ, có nơi thờ cúng riêng như nhà thờ, chùa, thánh đường…, nghi lễ thờ cúng chặt chẽ, có sự tách biệt giữa thế giới thần linh và con người.
Còn tín ngưỡng thì chưa có hệ thống giáo lí mà chỉ có các huyền thoại, thần tích, truyền thuyết. Tín ngưỡng mang nhiều yếu tố dân gian, gắn với sinh hoạt văn hóa dân gian. Trong tín ngưỡng có sự hòa nhập giữa thế giới thần linh và con người, nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân tán, chưa thành quy ước chặt chẽ. Thần đạo Không ít người nhầm lẫn giữa Thần đạo Nhật Bản với Đạo giáo của Trung Quốc – một tôn giáo có tên được viết bằng chữ Hán tương tự là Thần đạo, đọc theo âm tiếng Trung Quốc là Shentao.
Mặc dù trong tín ngưỡng của Thần đạo Nhật Bản có chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố của Đạo giáo và chữ viết có giống nhau, nhưng Thần đạo của Nhật Bản (theo cách phát âm tiếng Nhật là Shinto), tiếng Anh là Shintoism và Thần đạo của Trung Quốc không phải là một, cũng không phải Thần đạo Nhật Bản có nguồn gốc từ Đạo giáo của Trung Quốc. Qua các tài liệu cổ học và kết quả nghiên cứu sử học cho thấy Thần đạo Nhật Bản là một tôn giáo được hình thành từ những tín ngưỡng cổ xưa có nguồn gốc chính ngay trên quần đảo Nhật Bản, mang tính đặc tính riêng của Nhật Bản [46:11-12]. Shinto đã xuất hiện trong buổi bình minh của lịch sử Nhật Bản và tồn tại cho đến ngày nay. Mặc dù, con đường phát triển của nó trong lịch sử Nhật Bản có những bước thăng trầm khác nhau, nhưng nó vẫn luôn là nền tảng tinh thần 13 của xã hội Nhật Bản.
Vì thế, Shinto đã tạo ra một hình ảnh hết sức độc đáo ít thấy có hiện tượng tương tự trong thế giới tinh thần của các dân tộc và các quốc gia khác trên thế giới: Nó vừa là tín ngưỡng vừa là một tôn giáo. Trong dân gian, Shinto là tín ngưỡng, mang trên mình nó dấu ấn của thời quá vãng xa xăm, thời mà các vị thần Nông nghiệp ngự trị với một cơ cấu không chặt chẽ. Nhưng mặt khác, nó lại là một tôn giáo có tổ chức chặt chẽ và những định chế nghiêm ngặt ở cấp Hoàng gia và Quốc gia. Hai mặt này, đã gắn bó chặt chẽ với nhau, phản ánh những nét cơ bản tính cách, tâm lý của người Nhật, cũng như cơ cấu chính trị và xã hội Nhật Bản.
Nếu như không hiểu được đặc tính hai mặt đó của Shinto thì khó có thể hiểu được một cách thấu đáo nền văn hóa tinh thần Nhật Bản. Thần xã Là nơi cư ngụ cho một hay nhiều thần linh, là nơi người ta đến đây xin thần đức tin tôn giáo và cũng chính là nơi người ta bày tỏ sự tôn kính thần bằng lễ vật và các nghi lễ thành kính. Thành hoàng Là một loại hình tín ngưỡng phổ biến ở nông thôn Việt Nam, là vị thần che chở, bảo hộ cho làng xóm nông nghiệp. Mỗi một làng Việt đều chọn một vị làm thần riêng của làng mình – đó là vị thần bảo trợ của mỗi làng với tên gọi là Thành hoàng.
Thành hoàng ở một thôn xã cũng như thổ công ở một nhà. Ngài là vị thần linh cai quản toàn thể thôn xã, che chở cho dân trong thôn, trong xã chống mọi ác thần, giúp đỡ cho thôn xã được thịnh vượng, quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa. Ý niệm về thần 1. Nhiên Thần Là những vị thần có liên quan đến các lực lượng tự nhiên, đó là các vị thần như: Thần Mặt Trời (Amaterasu Omi Kami) là một thiên thần có vị trí trung tâm trong thế giới các vị thần của Thần đạo.
Theo truyền thuyết Cổ sự ký và Nhật Bản thư kỷ, Amaterasu Omikami còn là thần tổ của Hoàng gia Nhật Bản. Trong các văn bản khoa học hiện đại, vị thần này được gọi vắn tắt là Amaterasu. Thần Mặt Trăng (Tsukiyomi no Mikoto) là em trai của Thần Mặt Trời. Thần Mặt Trăng được sinh ra từ mắt phải của Izanagi khi ông rửa mặt sau khi trở về từ suối vàng.
Một hôm Nữ Thần Mặt Trời sai Thần Mặt Trăng thay mình đi dự tiệc của Bảo Thực Thần. Bảo Thực Thần lần lượt nhìn vào biển, rừng và đồng lúa rồi nôn ra cá, thịt và một chén cơm mời Thần Mặt Trăng ăn. Kết quả là Bảo Thực Thần bị Thần Mặt Trăng đánh chết. Từ đó, Nữ Thần Mặt Trời không thèm nhìn mặt em trai, và khi nào có Thần Mặt trăng thì Thần Mặt trời đi chỗ khác.
Nhân Thần Có vị trí đặc biệt quan trọng. Trong số Nhân Thần trước hết phải kể đến các vị thần được coi là tổ tiên của các thị tộc (hay dòng họ) còn gọi là Ujigami (Thị Thần). Mỗi Ujigami được các thành viên của thị tộc đó tôn thờ. Đó là các vị thần như: Nữ Thần Mặt Trời (Amaterasu Omikami) – 15 thần tổ của dòng họ Thiên hoàng, Thần Futodama no Mikoto (Thái Bảo Mệnh Thần) – thần tổ của dòng họ Imbe, Thần Ame no Oshi Hi no Mikoto (Thiên Nhẫn Nhật Mệnh Thần) – thần tổ của dòng họ Otomo v.
Ngoài ra còn có các vị thần được coi là bảo hộ cho một số nghề thủ công và kỹ năng nhất định. Những vị thần này được coi là có khả năng đem lại những vận may, bảo vệ con người tránh những rủi ro và đem lại cho họ những kỹ năng nghề nghiệp. Về sau, do ảnh hưởng của tôn giáo ngoại lai, đặc biệt do ảnh hưởng của Phật giáo, Đạo giáo thì quan niệm về Nhân Thần lại càng được mở rộng. Nhân Thần không chỉ là khởi tổ của các thị tộc, các dòng họ, người bảo hộ các ngành nghề mà còn là linh hồn của những nhân vật lỗi lạc, những anh hùng, liệt sĩ.
Những Nhân Thần loại này gọi là Hitogami. Thậm chí, với ảnh hưởng của Phật giáo Tịnh thổ người ta còn cho rằng tất cả mọi người sau khi chết đều có thể trở thành Thần (tức là thành Phật) nếu khi sống biết tuân thủ những nghi thức tín ngưỡng nhất định [46:21]. Điểm đáng chú ý trong quan niệm về Nhân Thần của Thần đạo là ngay cả một số người còn đang sống cũng có thể được coi là thần, đó là những Ikigami. Họ thường là những nhân vật như: Miko – người hành nghề tôn giáo, những người này do sự rèn luyện khổ hạnh được coi là có khả năng hòa nhập được với Kami, như là hiện thân trần thế của Kami.
Các Thiên hoàng Nhật Bản trước đây cũng được coi là những Ikigami vì là con cháu của Nữ Thần Mặt Trời và sứ mạng trị vì trần thế của họ là thần thánh, thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Tuy nhiên, ranh giới giữa Nhiên Thần và Nhân Thần trong quan niệm của Thần đạo không phải là tuyệt đối. Trong các thần thoại và truyền thuyết thì hai loại thần này nhiều khi hòa làm một. Chẳng hạn Nữ Thần Mặt Trời, vốn là biểu trưng cho sức mạnh huyền bí, siêu việt của một thực thể tự nhiên trung tâm của vũ trụ, nhưng 16 đồng thời cũng là thần tổ của bộ tộc Thiên hoàng.
Như vậy, Nữ Thần Mặt Trời vừa là Nhiên Thần vừa là Nhân Thần. Tổng quan về Nhật Bản và lịch sử Thần đạo Nhật Bản 1. Tổng quan về Nhật Bản Lịch sử Thời đại Jomon (Thằng Văn) từ năm 1300 trước CN – 300 trước CN: gọi là Thằng Văn vì các đồ gốm trang trí lúc đó chủ yếu là các tua hình dây thừng hay có in hoa văn hình dây thừng. Sinh hoạt chủ yếu là săn bắt và đánh cá.
Thời đại Yayoi bắt đầu từ năm 300 trước CN – 300 sau CN: chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa và Triều Tiên. Bắt đầu trồng lúa và biết dùng kim loại. Tên của thời kỳ này cũng được lấy tên từ loại đồ gốm sản xuất vào lúc đó. Thời kỳ Kofun từ năm 300 – 710: một trung tâm quyền lực đã phát triển ở vùng đồng bằng màu mỡ Kinai.
Và đến năm 400 sau CN đất nước đã hợp nhất thành nước Yamato với trung tâm chính trị nằm ở tỉnh Yamato (Nara ngày nay). Tên của thời kỳ này lấy từ những ngôi mộ (Kofun) được xây dựng cho các nhà lãnh đạo chính trị của thời kỳ đó. Thời đại Yamato (Đại Hòa) từ năm 400 sau CN: nước Nhật Yamato trải rộng từ Kyushu đến Kinai nhưng chưa bao gồm Kanto, Tohoku và Hokkaido. Do mối quan hệ hữu hảo với vương quốc Kudara hay còn gọi là Paikche ở bán đảo Triều Tiên, những ảnh hưởng từ lục địa đã gia tăng nhanh chóng.